​    Trong khi Sa-lô-môn tôn cao luật lệ của thiên đàng thì Đức Chúa Trời đã ở với ông và ông được ban cho sự khôn ngoan để cai trị cả Y-sơ-ra-ên với sự công bằng và lòng nhân từ. Thoạt tiên, khi sự giàu có và danh vọng của thế gian đến với mình, ông vẫn giữ tấm lòng khiêm nhường và sức ảnh hưởng của ông thật rộng lớn. “Sa-lô-môn cai trị trên các nước, từ sông cái [Ơ-phơ-rát] cho đến xứ Phi-li-tin, cho đến ranh Ê-díp-tô.” “Người hòa hảo với các dân ở bốn phía. Trong đời vua Sa-lô-môn trị vì, dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên ăn ở yên ổn vô sự ai nấy đều ở dưới cây nho và cây vả mình.” 1 Các-vua 4: 21, 24, 25.

          Nhưng sau buổi ban mai đầy hứa hẹn ấy, cuộc đời của ông đã trở nên đen tối bởi sự bội đạo. Lịch sử ghi lại một sự thật đáng buồn rằng ông là người đã từng được gọi là Giê-đi-đia—“Đức Giê-hô-va thương yêu” (2 Sa-mu-ên 12: 25, ghi chú phía dưới)—người đã được Đức Chúa Trời tôn trọng với những bằng chứng rất rõ rệt về đặc ân thiêng liêng đến nỗi sự khôn ngoan và chánh trực đã đem lại cho ông danh tiếng khắp thế gian, người đã từng dẫn đưa nhiều người khác qui vinh hiển về cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên vậy mà giờ đây ông đã xây bỏ việc thờ phượng Đức Giê-hô-va để cúi mình trước những thần tượng của dân ngoại.

          Hàng trăm năm trước khi Sa-lô-môn lên ngôi, Đức Giê-hô-va thấy trước được những mối hiểm họa mà sẽ ngáng đường những người có thể được chọn làm những nhà lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên, nên Ngài đã ban cho Môi-se sự dạy dỗ để dẫn dắt họ. Những lời chỉ dẫn được ban cho đó là người nào sẽ ngồi trên ngai của Y-sơ-ra-ên nên “chép một bổn cho mình” những mạng lệnh của Đức Giê-hô-va “chiếu theo luật pháp này mà những thầy tế lễ về dòng Lê-vi giữ.”

          Đức Giê-hô-va phán, “Bổn ấy phải ở bên vua trọn đời, vua phải đọc ở trong, để tập biết kinh sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, cẩn thận làm theo các lời của luật pháp này, và hết thảy điều răn này—kẻo lòng vua lướt trên anh em mình, xây về bên hữu hay bên tả, lìa bỏ điều răn này—hầu cho vua và con cháu vua được trị vì lâu ngày giữa Y-sơ-ra-ên.” Phục-truyền-luật-lệ-ký 17: 18-20.

          Gắn liền với sự chỉ dẫn này, Đức Chúa Trời đã đặc biệt cảnh cáo người được xức dầu làm vua “cũng không nên kén nhiều phi tần, e lòng người trở nên xấu xa; lại chẳng nên thâu góp nhiều bạc vàng.” Câu 17.

        ​  Sa-lô-môn đã quen với những lời cảnh báo này và có một khoảng thời gian ông đã vâng theo những điều đó. Khao khát lớn nhất của ông là sống và trị vì theo những mạng lệnh đã được ban cho tại Si-na-i. Phương cách mà ông cai quản vương quốc mình hoàn toàn tương phản với những phong tục của các dân tộc trong thời của ông—những dân tộc không hề kính sợ Đức Chúa Trời và những vị lãnh đạo của họ đã giày đạp luật pháp thánh của Ngài.

        Trong việc tìm kiếm để gia tăng mối quan hệ của mình với cường quốc nằm về phía nam của Y-sơ-ra-ên, Sa-lô-môn đã mạo hiểm thử vào vùng đất cấm. Sa-tan biết những kết quả mà sẽ đi theo sự vâng lời; và trong suốt những năm đầu thời trị vì của Sa-lô-môn—những năm rực rỡ bởi sự khôn ngoan, lòng nhân từ và sự chánh trực của nhà vua—nó tìm cách đem vào những ảnh hưởng mà sẽ âm thầm hủy hoại sự trung thành của Sa-lô-môn đối với các nguyên tắc và khiến người xa cách khỏi Đức Chúa Trời. Từ sự ghi chép lại, chúng ta biết rằng kẻ thù đã thành công trong nỗ lực này: “Sa-lô-môn kết thân với Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, cưới con gái người, rước nàng về thành Đa-vít.” 1 Các-vua 3: 1.

          Từ quan điểm của con người thì cuộc hôn nhân này—mặc dù đi ngược lại với sự dạy dỗ của Đức Chúa Trời—có vẻ tỏ ra là một ơn phước; bởi người vợ ngoại giáo của Sa-lô-môn rồi sẽ thay đổi tín ngưỡng và sẽ hiệp cùng ông trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời chân thật. Hơn nữa, Pha-ra-ôn đã giúp đỡ dân Y-sơ-ra-ên một cách đáng kể bằng việc chiếm lấy Ghê-xe, giết “những dân Ca-na-an ở trong thành,” rồi ban thành ấy “làm của vu quy cho con gái mình, là vợ Sa-lô-môn.” 1 Các-vua 9: 16. Sa-lô-môn đã xây dựng lại thành này và do đó nhìn từ bên ngoài, việc ấy đã làm đất nước ông vững mạnh hơn rất nhiều dọc theo bờ Địa Trung Hải. Nhưng trong việc liên mình với một dân ngoại, và đóng ấn hiệp ước đó bằng việc kết hôn với một công chúa thờ hình tượng, Sa-lô-môn đã hấp tấp coi nhẹ sự dự phòng khôn ngoan mà Đức Chúa Trời đã thực hiện để duy trì sự thánh khiết của dân sự Ngài. Niềm hy vọng rằng người vợ Ê-díp-tô của ông có thể sẽ tin nhận Chúa chỉ là một lời biện hộ yếu đuối cho tội lỗi.

          Có một khoảng thời gian Đức Chúa Trời bởi lòng thương xót nhân từ của Ngài đã bỏ qua lỗi lầm nghiêm trọng này, và nhà vua, bằng cách cư xử khôn ngoan đã có thể ít ra kiềm chế được phần lớn những ảnh hưởng xấu do sự khinh suất của mình gây ra. Nhưng Sa-lô-môn đã bắt đầu không còn nhìn thấy Nguồn của sức mạnh và sự vinh hiển của mình. Khi sự sa đà lấn át cả lý trí, sự tự tin vào bản thân tăng lên, ông tìm cách thực hiện mục đích của Đức Chúa Trời trong đường lối của mình. Ông lý luận rằng việc liên minh về chính trị và kinh tế với những dân tộc xung quanh sẽ đem lại cho những dân tộc này sự hiểu biết về Đức Chúa Trời chân thật; và ông đã bước vào mối liên minh không thánh khiết với hết dân tộc này đến dân tộc khác.  Thường thì những mối liên kết này được đóng ấn bằng những cuộc hôn nhân với những công chúa ngoại giáo. Những mạng lịnh của Đức Giê-hô-va bị dẹp sang một bên nhường chỗ cho những phong tục của các dân tộc xung quanh.

          Sa-lô-môn hy vọng hão huyền rằng sự khôn ngoan cùng sức mạnh của sự gương mẫu của mình sẽ dẫn dắt những người vợ từ sự thờ hình tượng sang thờ phượng Đức Chúa Trời chân thật, và những mối liên minh mà đã được hình thành cũng sẽ lôi kéo những dân tộc xung quanh quan hệ mật thiết hơn với Y-sơ-ra-ên. Thật là một hy vọng hão huyền! Việc Sa-lô-môn tự cho rằng bản thân mình đủ mạnh để chống lại ảnh hưởng của những mối quan hệ với người ngoại là một sai lầm tai hại. Và sự lừa dối mà đã khiến ông hy vọng rằng cho dù bản thân ông coi nhẹ luật pháp của Đức Chúa Trời thì những người khác có thể sẽ được dẫn dắt vào việc tôn kính và vâng theo những lời giáo huấn thánh khiết đó, thì cũng thật tai hại.

          Những sự liên minh cùng những mối quan hệ kinh tế của nhà vua với những dân ngoại đã đem lại cho ông danh tiếng, sự tôn trọng và sự giàu có của thế gian này. Ông có khả năng đem về rất nhiều vàng từ Ô-phia và bạc từ Ta-rê-si. “Vua làm cho bạc vàng trong Giê-ru-sa-lem ra thường như đá sỏi, và cây bá hương nhiều như cây sung nơi đồng bằng.” 2 Sử-ký 1: 15. Sự giàu có, cùng tất cả những cám dỗ đi kèm với nó, đã xảy đến trong thời Sa-lô-môn giữa vòng dân sự với số người rất đông và gia tăng không ngừng; nhưng vàng tinh khiết của bản tánh thì lu mờ và tì vết.

          Sự bội đạo của Sa-lô-môn đã diễn ra cách dần dà chậm rãi đến nỗi người đã đi lạc xa khỏi Đức Chúa Trời trước khi người kịp nhận ra điều ấy. Người hầu như không nhận thấy rằng mình càng lúc càng ít trông cậy nơi sự dẫn dắt và ơn phước của Chúa. Từng bước một, người ngăn giữ lòng vâng phục kiên định với Đức Chúa Trời—lòng vâng phục từng khiến dân Y-sơ-ra-ên trở nên một dân tộc riêng biệt—và người càng lúc càng thích nghi khắng khít với những phong tục của các dân tộc xung quanh. Quy phục những sự cám dỗ gắn liền với thành công và địa vị cao trọng của mình, người đã quên Nguồn của sự phồn vinh mình. Tham vọng được vượt trội hơn tất cả những dân tộc khác về quyền lực và sự vĩ đại đã khiến người làm sai lệch những ân tứ của thiên đàng, mà đã từng được dùng để tôn vinh Đức Chúa Trời, vào những mục đích ích kỷ. Số tiền mà lẽ ra nên được gìn giữ và ủy thách cho lợi ích của những người nghèo khó và cho việc rao truyền những nguyên tắc sống thánh khiết ra khắp cả thế gian thì lại bị lôi cuốn một cách ích kỷ vào những dự án đầy tham vọng.

         Mê mải trong nỗi khát khao không kềm hãm nổi nhằm vượt trội hơn những dân tộc khác trong sự phô bày bên ngoài, nhà vua đã không chú ý đến việc cần phải có vẻ đẹp và sự hoàn thiện của bản tánh. Trong cuộc tìm kiếm vinh hiển cho bản thân trước thế gian, người đã bán đi danh dự và tính chính trực của mình. Những thu nhập khổng lồ có được qua việc buôn bán với nhiều quốc gia được bổ sung thêm với những số thuế nặng nề. Do đó, lòng kiêu ngạo, tham vọng, sự hoang phí và sự ham mê đã sanh trái bởi tính tàn nhẫn và sưu cao thuế nặng. Tinh thần cẩn trọng và sự quan tâm đến người khác từng được bày tỏ trong cách đối xử của người với dân sự trong giai đoạn đầu thời kỳ trị vì của mình, giờ đây đã thay đổi. Từ một vị lãnh đạo khôn ngoan và nhân ái nhất, người đã dần biến thành một bạo chúa. Từng là một người bảo vệ giàu lòng thương xót và kính sợ Đức Chúa Trời của dân sự, người đã trở nên một người đàn áp và chuyên chế. Hết loại thuế này đến loại thuế khác đánh trên dân sự, số của cải đó nhằm sẵn sàng để cấp dưỡng cho một triều đình xa hoa.

         Dân sự bắt đầu phàn nàn. Sự tôn trọng và lòng ngưỡng mộ mà họ đã từng ấp ủ giành cho nhà vua của họ, giờ đây đã đổi thay thành sự bất bình và lòng ganh ghét.

         Như một sự gìn giữ để chống lại việc lệ thuộc vào sức mạnh đầy quyền lực của xác thịt, Đức Giê-hô-va đã cảnh báo những người lão đạo trên Y-sơ-ra-ên không được gia tăng những bầy ngựa của họ. Nhưng vì hoàn toàn coi thường mạng lệnh này, “ngựa của Sa-lô-môn đều từ Ê-díp-tô mà ra.” “Có người đem cho Sa-lô-môn những ngựa từ xứ Ê-díp-tô và từ các nước mà đến.” “Sa-lô-môn cũng nhóm xe và lính kị; có một ngàn bốn trăm xe và mười hai ngàn lính kị, để trong các thành chứa xe, và tại Giê-ru-sa-lem, gần bên vua.” 2 Sử-ký 1: 16; 9: 28; 1 Các-vua 10: 26.

          Nhà vua càng lúc càng xem sự xa hoa, lối sống bê tha cùng sự ưng thuận của thế gian như là dấu hiệu của sự vĩ đại. Nhiều phụ nữ xinh đẹp và quyến rũ từ Ê-díp-tô, Phê-ni-xi, Ê-đôm, Mô-áp và từ nhiều nơi khác được đem đến. Những phụ nữ này được đếm đến hàng trăm người. Tôn giáo của họ là thờ lạy hình tượng và họ đã được dạy dỗ để thực hiện những lễ nghi tàn ác đầy hèn hạ. Mê đắm với nhan sắc của họ, nhà vua đã sao nhãng những bổn phận của người đối với Đức Chúa Trời và đối với vương quốc mình.

         Những người vợ của ông gây ảnh hưởng mạnh mẽ trên ông và dần dần đã thuyết phục ông cùng liên hiệp với họ trong sự thờ phượng của họ. Vua Sa-lô-môn đã bất chấp sự dạy dỗ mà Đức Chúa Trời đã ban cho làm hàng rào chống lại sự bội đạo, và giờ đây ông đã nhún nhường trước sự thờ phượng những thần giả dối. “Trong buổi già yếu, các hoàng hậu của Sa-lô-môn dụ lòng người đi theo các thần khác: Đối cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, lòng người chẳng trọn lành như thể lòng của Đa-vít, là cha người. Vì Sa-lô-môn cúng thờ Át-tạt-tê, nữ thần của dân Si-đôn, và thần Minh-côm, là thần đáng gớm ghiếc của dân Am-môn.” 1 Các-vua 11: 4, 5.

         Trên mô đất về phía nam của núi Ô-li-ve, đối diện với núi Mô-ri-a, nơi đền thánh xinh đẹp của Đức Giê-hô-va tọa lạc, vua Sa-lô-môn đã xây cất hàng loạt những công trình hùng vĩ được dùng làm những miếu thờ hình tượng. Để làm hài lòng những người vợ của mình, ông đã đặt những hình tượng to lớn, những hình tường bằng gỗ và bằng đá không có hình dáng, giữa những lùm cây mía và ôliu. Ở đó, trước những bàn thờ của các thần thánh ngoại giáo, những nghi lễ ngoại giáo ghê tởm nhất đã được thực hiện cho “Kê-móc, vật đáng gớm ghiếc của dân Mô-áp,” và cho “Mo-lóc, vật đáng gớm ghiếc của dân Am-môn.” Câu 7.

         Đường lối của Sa-lô-môn đã đem lại hình phạt chắc chắn của nó. Việc ông rời xa Đức Chúa Trời bởi sự thông giao với những kẻ thờ hình tượng là sự hủy hoại của ông. Khi ông vứt bỏ lòng trung thành dành cho Đức Chúa Trời của mình, ông đã đánh mất khả năng làm chủ bản thân mình. Năng lực đạo đức của ông mất đi. Những tri giác tốt lành của ông trở nên đần độn, lương tâm của ông chai lỳ. Ông—người mà trong thời trị vì thuở ban đầu đã bày tỏ rất nhiều sự khôn ngoan và lòng cảm thông của mình trong việc trả lại đứa bé bơ vơ cho người mẹ bất hạnh của nó (xem 1 Các-vua 3: 16-28)—đã rơi xuống rất thấp đến nỗi ưng thuận cho việc xây dựng một thần tượng mà những đứa bé sống sẽ được dâng trên đó như những của lễ thiêu. Ông—người mà trong thời trai trẻ của mình đã được phú cho sự suy xét khôn ngoan cùng sự thông hiểu và người trong tuổi trưởng thành mạnh mẽ của mình đã được soi dẫn để viết, “Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết” (Châm-ngôn 14: 12), trong những năm sau đó lại xa rời khỏi sự tinh khiết khi tán thành những lễ nghi dâm loạn và kinh tởm gắn liền với sự thờ phượng Kê-móc và Át-tạt-tê. Ông—người tại buổi lễ khánh thành đền thờ đã nói với dân sự của mình rằng, “Các ngươi khá lấy lòng trọn lành đối với Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta” (1 Các-vua 8: 61), để rồi chính bản thân mình lại trở nên người phạm tội, trong tấm lòng cũng như trong đời sống đã phủ nhận những lời nói của chính mình. Ông đã hiểu lầm sự phóng túng với sự tự do. Ông đã cố kết hợp ánh sáng với bóng tối, điều thiện với điều ác, sự thanh sạch với sự ô uế, Đấng Christ với Bê-li-an.

         Từ một trong những vị vua vĩ đại nhất từng nắm giữ vương trượng, Sa-lô-môn trở nên trác táng, trở nên một công cụ và nô lệ cho kẻ khác. Bản tánh của ông, một thời cao quí và mạnh mẽ, giờ trở nên mỏi mòn và yếu ớt. Đức tin nơi Đức Chúa Trời hằng sống của ông bị thay thế bởi những sự nghi ngờ của thuyết vô thần. Sự hoài nghi đã làm hỏng hạnh phúc của ông, làm yếu mòn những nguyên tắc của ông, và làm giảm giá trị của đời sống ông. Sự công bằng và tính đại lượng của thời trị vì đầu của ông đã thay đổi thành chế độ chuyên quyền và áp chế. Bản tánh con người thật dễ bị cám dỗ và tội nghiệp làm sao! Đức Chúa Trời không thể làm gì được nhiều cho những ai đã đánh mất ý thức về sự nương tựa vào Ngài.

          Trong suốt những năm bội đạo này, sự suy sụp tâm linh của dân Y-sơ-ra-ên diễn ra nối tiếp nhau. Làm sao có thể khác đi được khi vua của họ đã hòa hợp những lợi ích của ông với những tác nhân của ma quỉ? Qua những tác nhân này, kẻ thù đã hành động để làm bối rối tâm trí của dân Y-sơ-ra-ên về sự thờ phượng chân thật và giả dối, rồi họ đã dễ dàng trở nên một con mồi. Sự buôn bán với những nước khác đã đem họ đến việc tiếp xúc thân mật với những người không có tình yêu thương đối với Đức Chúa Trời, và tình yêu thương của chính bản thân họ dành cho Ngài đã giảm đi một cách đáng kể. Ý thức sắc bén của họ về bản tánh cao thượng và thánh khiết của Đức Chúa Trời đã giảm dần đi. Từ chối không chịu đi theo con đường của sự vamất ý thức về sự nương tựa vào Ngài.

          Trong suốt những năm bội đạo này, sự suy sụp tâm linh của dân Y-sơ-ra-ên diễn ra nối tiếp nhau. Làm sao có thể khác đi được khi vua của họ đã hòa hợp những lợi ích của ông với những tác nhân của ma quỉ? Qua những tác nhân này, kẻ thù đã hành động để làm bối rối tâm trí của dân Y-sơ-ra-ên về sự thờ phượng chân thật và giả dối, rồi họ đã dễ dàng trở nên một con mồi. Sự buôn bán với những nước khác đã đem họ đến việc tiếp xúc thân mật với những người không có tình yêu thương đối với Đức Chúa Trời, và tình yêu thương của chính bản thân họ dành cho Ngài đã giảm đi một cách đáng kể. Ý thức sắc bén của họ về bản tánh cao thượng và thánh khiết của Đức Chúa Trời đã giảm dần đi. Từ chối không chịu đi theo con đường của sự vâng phục, họ đã chuyển lòng trung thành của mình qua cho kẻ thù của sự công bình. Việc kết hôn với những kẻ thờ hình tượng đã trở nên một thông lệ phổ biến, và dân Y-sơ-ra-ên đã nhanh chóng không còn ghê tởm việc thờ lạy hình tượng. Sự đa thê được tán thành. Những bà mẹ thờ hình tượng đã dạy dỗ con cái của họ gìn giữ những lễ nghi ngoại bang. Trong đời sống của một số người, sự thờ phượng thanh sạch được thiết lập bởi Đức Chúa Trời đã bị thay thế bởi việc thờ hình tượng gớm ghiếc.

          Các Cơ Đốc nhân phải gìn giữ bản thân mình riêng biệt và tách rời khỏi thế gian, khỏi tinh thần và những ảnh hưởng của nó. Đức Chúa Trời có thể hoàn toàn gìn giữ chúng ta trong thế gian, nhưng chúng ta không được thuộc về thế gian. Tình yêu thương của Ngài không thay đổi và không dao động. Ngài luôn quan phòng con cái Ngài với sự chăm sóc không thể đo lường được. Nhưng Ngài đòi hỏi một lòng trung thành trọn vẹn. “Chẳng ai được làm tôi hai chủ; vì sẽ ghét người này mà yêu người kia, hoặc trọng người này mà khinh người kia. Các ngươi không có thể làm tôi Đức Chúa Trời lại làm tôi Ma-môn nữa.” Ma-thi-ơ 6: 24.

          Vua Sa-lô-môn đã được phú cho sự khôn ngoan tuyệt vời, nhưng thế gian đã lôi kéo người khỏi Đức Chúa Trời. Con người ngày nay không mạnh mẽ hơn ông; họ cũng dễ chịu thua trước những ảnh hưởng mà đã khiến cho người suy sụp. Như Đức Chúa Trời đã cảnh báo Sa-lô-môn về mối hiểm họa xảy đến cho người, ngày hôm nay Ngài cũng cảnh báo những con cái của Ngài đừng đưa linh hồn họ vào chốn nguy hiểm bởi việc quan hệ mật thiết với thế gian. Ngài [kêu cầu], “Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ đừng đá động đến đồ ô uế, thì Ta sẽ tiếp nhận các ngươi: Ta sẽ làm Cha các ngươi, các ngươi làm con trai con gái Ta, Chúa Toàn Năng phán như vậy.” 2 Cô-rinh-tô 6: 17, 18.

         Giữa sự phồn vinh ẩn nấp mối hiểm họa. Trải mọi thời đại, sự giàu có và địa vị cao trọng luôn đi kèm với mối đe dọa cho lòng khiêm nhường cùng đời sống tâm linh. Không phải cái chén trống không khiến chúng ta khó cầm giữ; mà chính là cái chén đầy đến miệng khiến chúng ta phải cẩn thận giữ cho thăng bằng. Sự đau đớn và bất hạnh có thể gây ra đau khổ, nhưng chính sự thịnh vượng mới là nguy hiểm nhất đối với đời sống tâm linh. Trừ khi ý muốn của con người luôn quy phục ý muốn của Đức Chúa Trời, trừ khi con người được làm nên thánh bởi lẽ thật, thì sự phồn vinh chắc chắn sẽ đánh thức bản tánh tự nhiên nghiêng về sự kiêu căng.

          Trong trũng của sự khiêm nhường, chỗ mà con người nương cậy nơi Đức Chúa Trời để Ngài dạy dỗ và dẫn dắt mỗi bước của họ, thì tương đối an toàn. Nhưng những người đứng trên đỉnh của sự kiêu căng như điều ấy đã vẫn xảy ra, và những ai, vì địa vị của mình mà nghĩ rằng mình sở hữu sự khôn ngoan lớn—thì những người này ở trong một mối hiểm họa trầm trọng nhất. Trừ khi những người ấy chọn Đức Chúa Trời là nơi nương tựa của mình, họ chắc chắn sẽ sa ngã.

          Bất cứ khi nào sự kiêu ngạo và tham vọng được ấp ủ, thì đời sống bị hư hỏng, bởi lòng kiêu ngạo, cảm thấy không cần gì hết, đóng cửa lòng trước những ơn phước vô bờ bến của Thiên đàng. Người nào chọn sự tự ca tụng là mục đích của mình sẽ thấy bản thân thiếu thốn ân điển của Đức Chúa Trời, mà qua năng lực ấy, nhận được những sự giàu có chân thật nhất cùng những niềm vui thỏa mãn nhất. Nhưng người nào dâng hiến cả thảy và thực hiện tất cả cho Đấng Christ sẽ biết được sự ứng nghiệm của lời hứa, “Phước lành của Đức Giê-hô-va làm cho giàu có; Ngài chẳng thêm sự đau lòng gì lẫn vào.” Châm-ngôn 10: 22. Với một cái rờ dịu dàng của ân điển, Đấng Cứu Chuộc xua đuổi khỏi linh hồn những tham vọng đầy lo âu và xấu xa, biến đổi sự thù hằn thành tình yêu thương và sự không tin kính thành lòng tin cậy. Khi Ngài trò chuyện với linh hồn, phán rằng, “Hãy theo ta,” thì câu thần chú mê hoặc của thế gian bị phá vỡ. Với âm thanh từ giọng nói của Ngài, thì tinh thần tham lam cùng sự tham vọng biến mất khỏi tấm lòng, và con người sẽ chỗi dậy, được giải phóng để đi theo Ngài.

Leave a Reply


  • Categories

  • Liên Hệ

    Email: theheritagekeepers247@gmail.com