​  Nổi bật giữa những nguyên nhân chính mà đã đưa Sa-lô-môn vào lối sống xa hoa và cách cai trị áp bức là sự thất bại của người trong việc duy trì và nuôi dưỡng tinh thần hy sinh quên mình.

          Tại chân núi Si-na-i, khi Môi-se bảo với dân sự mạng lịnh thiên thượng, “Họ sẽ làm cho Ta một đền thánh và Ta sẽ ở giữa họ,” thì dân Y-sơ-ra-ên đã hưởng ứng với những của dâng thích đáng kèm theo. “Mọi người có lòng cảm động, và mọi người có lòng thành, đều đem lễ vật đến dâng,” Xuất-ê-díp-tô-ký 25: 8; 35: 21. Việc xây cất đền thờ rất cần sự chuẩn bị có quy mô và bao quát; cần phải có một số lượng lớn những vật dụng quí giá và đắt tiền nhất; nhưng Đức Giê-hô-va chỉ chấp nhận những của dâng tự nguyện mà thôi. “Các ngươi hãy nhận lấy lễ vật của mọi người có lòng thành dâng cho,” là mạng lịnh đã được Môi-se nhắc lại với hội chúng. Xuất-ê-díp-tô-ký 25: 2. Sự thành tâm đối với Đức Chúa Trời và một tinh thần hy sinh là những điều kiện tất yếu đầu tiên cần cho việc sửa soạn một nơi ngự cho Đấng Tối Cao.

          Một lời kêu gọi hy sinh quên mình tương tự như vậy đã được ban ra khi Đa-vít trao cho Sa-lô-môn trách nhiệm xây cất đền thờ. Đa-vít đã hỏi dân chúng khi triệu tập họ rằng, “Vậy ngày nay, ai là người vui lòng dâng mình cho Đức Giê-hô-va?” 1 Sử-ký 29: 5. Lời kêu gọi dâng mình và sẵn sàng phục vụ này cần phải luôn ở trong tâm trí của những ai làm công việc xây cất đền thờ.

          Trong công việc xây dựng đền tạm nơi đồng vắng, một số người được tuyển chọn đã được Đức Chúa Trời phú cho sự khéo léo và khôn ngoan đặc biệt. “Môi-se nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Này Đức Giê-hô-va đã kêu danh Bết-sa-la-ên trong chi phái Giu-đa. Ngài phú cho người đầy dẫy Thần của Đức Chúa Trời, sự khôn ngoan, sự thông sáng, sự hiểu biết, để làm mọi thứ nghề thợ. Ngài lại phú cho người tài dạy dỗ, và cũng đồng ban cho Ô-hô-li-áp . . . trong chi phái Đan nữa. Ngài phú cho hai người đó đầy sự khôn ngoan đặng làm các công nghệ về thợ thêu, thợ dệt để bày ra và làm các thứ công nghệ khéo. Bết-sa-lê-ên, Ô-hô-li-áp và các người khôn khéo, tức là người Đức Giê-hô-va đã phú cho sự khôn ngoan và sự thông sáng đặng làm các công việc định dụng về việc tế lễ nơi thánh, đều làm mọi việc mà Đức Giê-hô-va đã phán dặn.” Xuất-ê-díp-tô-ký 35: 30-35; 36: 1. Những sự khôn ngoan của thiên đàng đã hợp tác với những người thợ mà chính Đức Chúa Trời đã lựa chọn.

          Con cháu của những người thợ này đã thừa hưởng một phần lớn những ta-lâng mà cha ông họ được ban cho. Trong một khoảng thời gian, những người Giu-đa và Đan vẫn sống khiêm nhường và không ích kỷ; nhưng từng chút một, họ không nhận ra được rằng mình dần đánh mất sự trông cậy của mình nơi Đức Chúa Trời cũng như đánh mất lòng khát khao phụng sự Ngài một cách vô vị kỷ. Họ đã đòi hỏi công giá cao hơn cho sự phục vụ của mình, bởi vì họ là những người thợ có tay nghề khéo léo cao trong những công trình nghệ thuật tinh xảo. Trong một vài trường hợp thì yêu cầu của họ được đáp ứng, nhưng thường là họ tìm việc làm trong những quốc gia lân cận. Thay thế cho tinh thần cao quí hy sinh quên mình luôn tràn đầy trong tấm lòng của các tổ phụ có tiếng của mình, họ đã theo đuổi một tinh thần của sự tham lam, của sự tranh giành. Để có thể làm vừa lòng những mong muốn ích kỷ của mình, họ đã dùng sự khéo léo mà Đức Chúa Trời đã ban cho để phục vụ cho những vị vua của dân ngoại, và đem ta-lâng của họ để hoàn thành những công việc mà sẽ là một sự ô nhục cho Đấng Tạo Hóa của họ.

          Chính là ở giữa những người này mà Sa-lô-môn đã tìm kiếm một người thợ bậc thầy để coi sóc việc xây cất một đền thờ trên núi Mô-ri-a. Những chi tiết chi li được viết ra về mọi phần của công trình thánh khiết đã được giao phó cho nhà vua; và ông đã có thể trông cậy nơi Đức Chúa Trời bởi đức tin và những người phụ giúp được biệt riêng ra thánh, những người mà đã có thể được phú cho kỹ năng đặc biệt để thực hiện một cách chính xác công việc đặt ra. Nhưng Sa-lô-môn đã không nhìn thấy cơ hội để bày tỏ đức tin nơi Đức Chúa Trời ở đây. Ông đã nhờ vua Ty-rơ sai đến một người “giỏi về nghề chế đồ vàng, bạc, đồng, sắt, thạo dệt bằng chỉ tím, đỏ và xanh, cùng biết chạm trổ đủ nghề, để làm việc với những người tài giỏi ở . Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.” 2 Sử-ký 2: 7.

          Vị vua xứ Phê-ni-xi đã đáp lời bằng cách sai Hu-ram “con trai của người đàn bà về chi phái Đan, cha người là dân Ty-rơ.” Câu 14. Hu-ram là con cháu về bên mẹ của Ô-hô-li-áp là người hàng trăm năm trước được Đức Chúa Trời ban cho sự khôn ngoan đặc biệt để xây cất đền tạm.

          Như vậy, được đặt đứng đầu nhóm thợ của Sa-lô-môn là một người mà những nỗ lực của ông ta không phải được thúc đẩy bởi một lòng khao khát vô vị kỷ để dâng lên một sự phụng sự cho Đức Chúa Trời. Ông ta đã phục vụ ma-môn, chúa của thế gian này. Chính những thớ thịt của con người này đã quyện lẫn với những nguyên tắc của sự ích kỷ.

          Bởi khả năng khác thường của mình, Hu-ram đã đòi hỏi một công giá rất cao. Dần dần những nguyên tắc sai lầm mà ông ta ấp ủ đã được chấp thuận bởi những người cộng tác với ông. Ngày qua ngày, khi họ cùng lao động với ông, họ đã quy phục dưới chiều hướng xấu để so sánh công giá của ông ta với chính bản thân, và họ đã bắt đầu đánh mất bản chất thánh khiết của công việc mình đang làm. Tinh thần vô vị kỷ đã rời khỏi họ, thay vào đó là tinh thần tham lam. Kết quả là sự đòi hỏi một mức lương cao hơn mà đã được chấp thuận.

          Những ảnh hưởng tai hại như thế đã bắt đầu hoạt động xâm nhập vào trong tất cả những chức việc của sự phục vụ Đức Chúa Trời, và đã lan rộng ra khắp đất nước. Việc lương hướng cao bị đòi hỏi và được chấp thuận đã cho nhiều người cơ hội vui thú trong sự xa hoa và phung phí. Người nghèo bị áp bức bởi người giàu; tinh thần vô vị kỷ hầu như bị đánh mất. Trong các tác động sâu rộng của những ảnh hưởng này, chúng ta có thể truy nguyên một trong những lý do chính về sự bội đạo khủng khiếp của người mà đã từng được kể trên giữa những nhà thông thái nhất của nhân loại.

          Có một bài học mang ý nghĩa sâu sắc trong sự tương phản rõ rệt giữa tinh thần và động cơ của những người xây cất đền tạm trong đồng vắng với những người tham gia trong việc xây cất đền thờ của Sa-lô-môn. Sự tự tư tự lợi mà đã mô tả đặc điểm của những người thợ xây đền thờ đã tìm được bản sao của nó ngày hôm nay trong sự ích kỷ đang thống trị thế giới. Tinh thần tham lam, tìm kiếm địa vị cao trọng nhất và tiền lương nhiều nhất đang lan tràn.

          Sự sẵn lòng phục vụ và sự vui mừng hy sinh của những người thợ của đền tạm thật hiếm khi gặp được. Nhưng đây là tinh thần duy nhất mà nên là động cơ thúc đẩy của những người đi theo Đức Chúa Jêsus. Đức Thầy thiên thượng của chúng ta đã để lại gương cho những môn đồ của Ngài về cách phải làm việc như thế nào. Đối với những người mà Ngài truyền lệnh, “Các ngươi hãy theo Ta, Ta sẽ cho các ngươi nên tay đánh lưới người” (Ma-thi-ơ 4: 19), Ngài đã không đề nghị một số tiền nhất định nào như là phần thưởng cho những sự phục vụ của họ. Họ phải chia sẻ với Ngài trong sự quên mình và lòng hy sinh.

          Chúng ta không nên làm việc vì lương hướng mình sẽ nhận được. Động cơ thúc đẩy chúng ta làm việc cho Đức Chúa Trời không nên có một chút gì liên quan đến việc phục vụ bản thân. Sự thành tâm vô vị kỷ cùng một tinh thần hy sinh đã và sẽ luôn là điều kiện tất yếu đầu tiên cho một sự phục vụ có thể chấp nhận được. Chúa và Đức Thầy của chúng ta mong muốn rằng không một sợi chỉ nào của sự ích kỷ sẽ được thêu dệt trong công việc của Ngài. Trong những nỗ lực của mình, chúng ta đem đến sự tài trí và khéo léo, tính chính xác và sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời của sự hoàn hảo đã đòi hỏi nơi những người xây cất đền tạm dưới đất; tuy nhiên trong tất cả những sự lao động của mình, chúng ta phải nhớ rằng những ta-lâng vĩ đại nhất hoặc những sự phục vụ tuyệt vời nhất chỉ được chấp nhận khi bản ngã được đặt trên bàn thờ một của lễ thiêu sống.

          Một sự trệch hướng khác nữa từ những nguyên tắc ngay thẳng đã dẫn đến sự sa ngã của vua Y-sơ-ra-ên là việc nhà vua đã quy phục trước sự cám dỗ khi ông nhận lấy cho bản thân sự vinh hiển mà lẽ ra chỉ duy thuộc về Đức Chúa Trời.

          Từ ngày vua Sa-lô-môn được giao phó công việc xây cất đền thờ, cho đến thờ điểm nó được hoàn tất, mục đích mà người thừa nhận là “xây đền cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên.” 2 Sử-ký 6: 7. Mục đích này được thừa nhận một cách đầy đủ trước những đám đông dân Y-sơ-ra-ên khi họ tập hợp lại vào thời điểm dâng hiến đền thờ. Trong lời cầu nguyện của mình, nhà vua đã công nhận rằng Đức Giê-hô-va đã phán, “Danh Ta sẽ ngự tại đó.” 1 Các-vua 8: 29.

          Một trong những phần cảm động nhất trong lời cầu nguyện hiến dâng của Sa-lô-môn là việc người nài xin Chúa cho những người khách lạ đến từ những quốc gia xa xôi được học biết thêm về Đấng mà danh của Ngài đã được truyền bá khắp nơi giữa các nước. Nhà vua cầu xin, họ “sẽ nghe nói về danh lớn của Chúa, về cánh tay quyền năng giơ thẳng ra của Chúa.” Thay mặt cho từng cá nhân ngoại bang đến thờ phượng này, Sa-lô-môn đã cầu nguyện, “Xin Chúa dủ nghe và làm theo mọi điều người khách lạ sẽ cầu xin Chúa; để cho muôn dân của thế gian nhận biết danh Chúa, kính sợ Chúa, y như dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, và cho biết rằng danh Chúa xưng ra trên đền này mà tôi đã xây cất.” Câu 42, 43.

          Vào lúc kết thúc buổi thờ phượng, vua Sa-lô-môn đã kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên hãy trung tín và thành thật với Đức Chúa Trời để “cho muôn dân của thế gian biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, chớ chẳng có ai khác.” Câu 60.

         Đó là khi nữ vương nước Sê-ba đến thăm Sa-lô-môn. Được nghe nói về sự khôn ngoan của người và về đền thờ nguy nga tráng lệ mà người đã xây dựng, bà đã quyết định “hỏi thử Sa-lô-môn nhiều câu đố” và muốn tận mắt xem công trình nổi tiếng của ông. Được hộ tống bởi một đoàn tùy tùng các người hầu, cùng với những lạc đà chở “thuốc thơm, nhiều vàng và ngọc” bà thực hiện một hành trình dài đến Giê-ru-sa-lem. Và khi “bà đến cùng Sa-lô-môn, nói với người mọi điều có ở trong lòng mình.” Bà đã nói với người về những điều kỳ diệu của thiên nhiên; và Sa-lô-môn đã dạy dỗ bà về Đức Chúa Trời của thiên nhiên, Đấng Tạo Hóa vĩ đại, Đấng ngự nơi tầng trời cao nhất và cai trị trên tất cả. “Sa-lô-môn đáp các câu hỏi của bà, chẳng câu nào bí ẩn quá cho Sa-lô-môn mà người không giải nghĩa nổi cho bà.” 1 Các-vua 10: 1-3; 2 Sử-ký 9: 1, 2.

          “Khi nữ vương Sê-ba thấy mọi sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, cung điện người đã cất thì mất vía.” Bà thừa nhận, “Điều tôi nghe nói trong xứ tôi về lời nói và sự khôn ngoan của vua, thì thật lắm. Song trước khi tôi chưa đến đây, và chưa tận mắt những điều này, thì tôi chẳng tin; và kìa, người ta chẳng nói được đến phân nửa! Sự khôn ngoan và oai nghi của vua trổi hơn tiếng đồn tôi đã nghe. Các tôi tớ vua thật có phước thay! Các tôi tớ hằng đứng chầu trước mặt vua, nghe sự khôn ngoan của vua, lấy làm có phước thay!” 1 Các-vua 10: 4-8; 2 Sử-ký 9: 3-6.

          Vào thời điểm kết thúc chuyến viếng thăm, nữ vương đã được vua Sa-lô-môn dạy dỗ thật đầy đủ về nguồn của sự khôn ngoan cùng sự phồn vinh của ông đến nỗi bà buộc phải thốt lên [không phải để tán dương tác nhân con người] rằng, “Đáng ngợi khen thay Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua, vì Ngài đẹp lòng vua, đặt vua trên ngôi của Y-sơ-ra-ên! Bởi vì Đức Giê-hô-va yêu dấu Y-sơ-ra-ên mãi mãi, nên Ngài đã lập vua làm vua đặng cai trị theo sự ngay thẳng và công bình.” 1 Các-vua 10: 9. Đây là ấn tượng mà Đức Chúa Trời muốn để lại trên tất cả mọi người. Và khi “các vua trên đất đều cầu thấy mặt Sa-lô-môn, đặng nghe sự khôn ngoan của người mà Đức Chúa Trời đã để trong lòng người” (1 Sử-ký 9: 23) thì Sa-lô-môn trong một thời gian, ông đã tôn vinh Đức Chúa Trời bằng cách cung kính chỉ họ về Đấng Tạo Hóa của trời và đất, Đấng Tể Trị của vũ trụ, Đấng Toàn Tri.

          Giá như Sa-lô-môn tiếp tục giữ tấm lòng khiêm nhường để xây tập trung của con người khỏi bản thân ông mà hướng về Đấng đã ban cho ông sự khôn ngoan, sự giàu có và danh vọng, thì ông đã có một trang lịch sử tuyệt vời biết bao! Thế nhưng, trong khi ngòi bút của sự soi dẫn ghi chép lại những đức tính tốt của ông, thì nó cũng mang lời chứng chân thật về sự sa ngã của ông. Lên đến đỉnh cao của sự vĩ đại và được bao quanh bởi những món quà của sự thịnh vượng, Sa-lô-môn đã trở nên choáng váng, mất thăng bằng và sa ngã. Luôn được tán dương bởi những con người của thế gian, cuối cùng ông đã không thể cưỡng lại những lời tâng bốc mà mình được ban tặng. Sự khôn ngoan mà ông đã được giao phó để có thể làm vinh hiển Đấng ban cho, đã làm ông chứa đầy sự kiêu ngạo. Cuối cùng ông đã để cho người ta nói đến mình như là người xứng đáng nhất để nhận lời ngợi khen về vẻ tráng lệ vô song của công trình xây dựng đã được phác thảo và xây cất cho sự tôn quý của “danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.”

          Do đó mà đền thờ của Đức Giê-hô-va được biết đến ở khắp các dân tộc như là “đền thờ của vua Sa-lô-môn.” Chính người trong vai trò là tác nhân đó đã nhận lấy cho bản thân sự vinh hiển thuộc về “Đấng cao hơn nữa.” Truyền-đạo 5: 8. Ngay cả cho đến ngày hôm nay, đền thờ mà Sa-lô-môn đã tuyên bố rằng “Đền này mà tôi đã xây cất, được gọi bằng danh Chúa” (2 Sử-ký 6: 33), thì thường được nói đến, không phải như đền thờ của Đức Giê-hô-va, nhưng như là “đền thờ của vua Sa-lô-môn.”

          Con người không thể bày tỏ sự yếu đuối nào hơn cho bằng việc để cho những người khác gán cho mình niềm vinh dự về những tài năng mà Thiên Đàng đã phú cho. Một Cơ Đốc nhân chân chính sẽ giữ Đức Chúa Trời trước hết và sau cùng cũng như trên hết trong mọi sự. Không có những động cơ tham vọng nào sẽ làm lạnh giá tình yêu thương của người dành cho Đức Chúa Trời; một cách kiên định và bền bỉ, người sẽ khiến cho danh dự dội trở lại cùng Cha Thiên Thiện của mình. Đó là khi chúng ta trung tín trong việc chúc tụng danh của Đức Chúa Trời mà những sự bốc đồng của chúng ta sẽ ở dưới sự giám sát thiêng liêng, và chúng ta có thể phát triển sức mạnh tâm linh và trí óc.

          Đức Chúa Jêsus, Đức Thầy thiên thượng, đã luôn tán tụng danh của Cha Ngài ở trên trời. Ngài đã dạy các môn đồ của mình cầu nguyện, “Lạy Cha chúng con ở trên trời; Danh Cha được thánh.” Ma-thi-ơ 6: 9. Và họ không được quên để thừa nhận rằng “Vinh hiển thuộc về Cha.” Câu 13. Đấng Chữa Bịnh vĩ đại đã rất cẩn thận trong việc xây sự tập trung khỏi Ngài để hướng về Nguồn của quyền năng Ngài, để đám đông ngạc nhiên, khi “chúng thấy kẻ câm được nói, kẻ tàn tật được khỏi, kẻ què được đi,” sẽ không tôn vinh Ngài, nhưng sẽ “ngợi khen Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên.” Ma-thi-ơ 15: 31. Trong lời cầu nguyện tuyệt vời mà Đấng Christ đã dâng lên trước sự thọ hình của mình, Ngài đã tuyên bố, “Con đã tôn vinh Cha trên đất.” Ngài nài xin, “Xin làm vinh hiển Con, hầu cho Con cũng làm vinh hiển Cha.” “Hỡi Cha công bình, thế gian chẳng từng nhận biết Cha; song Con đã nhận biết Cha, và những kẻ này nhận rằng chính Cha đã sai Con đến. Con đã tỏ danh Cha ra cho họ, Con lại sẽ tỏ ra nữa, để cho tình yêu thương của Cha dùng yêu thương Con ở trong họ, và chính mình Con cũng ở trong họ nữa.” Giăng 17: 4, 1, 25, 26.

          “Đức Giê-hô-va phán như vầy: Người khôn chớ khoe sự khôn mình; người mạnh chớ khoe sự mạnh mình; người giàu chớ khoe sự giàu mình; nhưng kẻ nào khoe, hãy khoe về trí khôn mình biết Ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng làm ra sự thương xót, chánh trực, và công bình trên đất; vì Ta ưa thích những sự ấy, Đức Giê-hô-va phán vậy.” Giê-rê-mi 9: 23, 24.

        ​    “Tôi sẽ . . . ngợi khen danh Đức Chúa Trời,

        ​    Và lấy sự cảm tạ mà tôn cao Ngài.”

        ​    “Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền lực.”

        ​    “Hỡi Chúa, là Đức Chúa Trời tôi, tôi hết lòng ngợi khen Chúa,

        ​    Tôn vinh danh Chúa đến mãi mãi.”

        ​    “Hãy cùng tôi tôn trọng Đức Giê-hô-va,

        ​    Chúng ta hãy cùng nhau tôn cao danh của Ngài.”

   Thi-thiên 69: 30; Khải-huyền 4: 11; Thi-thiên 86: 12; 34: 3.

         Sự giới thiệu những nguyên tắc đẩy đưa khỏi một thần hy sinh và có khuynh hướng về phía sự tự ca tụng, thì hãy còn bị kèm theo một sự hư hỏng toàn bộ khác đối với kế hoạch của Chúa cho Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời đã dự kiến rằng dân sự của Ngài sẽ trở nên ánh sáng của thế gian. Từ nơi họ phải rạng soi sự vinh hiển của luật pháp Ngài khi được bày tỏ trong sự thực hành của cuộc sống. Để thực thi kế hoạch này, Ngài đã khiến cho tuyển dân chiếm giữ một vị trí chiến lược giữa các dân tộc trên đất.

         Trong những ngày của vua Sa-lô-môn, đất nước Y-sơ-ra-ên kéo dài từ Ha-mát ở phía bắc cho đến xứ Ê-díp-tô ở phía nam, và từ biển Địa Trung Hải đến sông Ơ-phơ-rát. Có rất nhiều những con đường tự nhiên về thương mại của thế giới chạy xuyên qua lãnh thổ này, và những đoàn lữ hành từ những vùng đất xa xôi luôn đi đi lại lại. Do đó mà vua Sa-lô-môn cùng dân sự của ông được ban cho cơ hội để bày tỏ cho những người của tất cả các dân tộc bản tánh của Vua muôn vua, và để dạy dỗ họ tôn kính và vâng lời Ngài. Sự hiểu biết này phải được ban cho cả thế gian. Qua sự dạy dỗ về những của dâng hy sinh, Đấng Christ được đưa lên cao trước mặt các dân, để mọi người có thể sống.

         Được đặt tại vị trí lãnh đạo một dân tộc mà đã được chuẩn bị như là ánh sáng dẫn đường cho những dân tộc xung quanh, vua Sa-lô-môn nên sử dụng sự khôn ngoan cùng quyền lực ảnh hưởng mà Đức Chúa Trời ban cho trong việc tổ chức và hướng dẫn một phong trào khai sáng vĩ đại cho những người không biết đến Đức Chúa Trời cùng lẽ thật của Ngài. Như vậy nhiều đám đông đã có thể được thu phục để trung thành với những mạng lệnh thiêng liêng, Y-sơ-ra-ên sẽ được bao bọc khỏi những sự gian ác được thực hiện bởi dân ngoại, và Đức Giê-hô-va của sự vinh hiển sẽ được rất tôn trọng. Nhưng Sa-lô-môn đã không còn nhìn thấy mục đích cao cả này. Ông đã thất bại trong việc tận dụng những cơ hội tuyệt vời của mình để mở mắt những người vẫn luôn đi ngang qua lãnh thổ của ông hoặc đang nấn ná tại những thành phố chủ chốt.

          Tinh thần truyền giáo mà Đức Chúa Trời đã ghi sâu vào lòng của vua Sa-lô-môn cũng như trong những tấm lòng của tất cả những người Y-sơ-ra-ên chân thật thì đã bị thay thế bởi một tinh thần buôn bán. Những cơ hội có được qua việc tiếp xúc với nhiều dân tộc đã bị sử dụng cho lợi ích cá nhân. Vua Sa-lô-môn tìm cách để củng cố vị trí chính trị của ông bằng việc xây dựng những thành kiên cố tại những cữa ngõ thương mại. Ông đã xây dựng lại Ghê-xe, gần Gia-phô, nằm dọc theo con đường giữa Ê-díp-tô và Sy-ri; Bết-hô-rôn, về phía tây của Giê-ru-sa-lem, điều khiển những sự qua lại của con đường chủ đạo từ trung tâm của xứ Giu-đê đến Ghê-xe, và bờ biển; Mê-ghi-đô, ở một vị trí trên con đường lữ hành từ Đa-mách đến Ê-díp-tô, và từ Giê-ru-sa-lem đến phía bắc; và “Tát-mốt trong đồng vắng” (2 Sử-ký 8: 4), dọc theo những con đường lữ hành từ phía đông. Tất cả những thành phố này được củng cố cách mạnh mẽ. Những lợi thế về kinh doanh của cửa sông tại đầu nguồn của Biển Đỏ được phát triển bởi sự xây dựng “một đoàn tàu tại Ê-xi-ôn-ghê-be trên mé Biển Đỏ, trong xứ Ê-đôm.” Những thủy thủ có tay nghề từ Ty-rơ, “với các tôi tớ của Sa-lô-môn” được cung cấp cho những tàu thuyền này trên những hành trình “đi Ô-phia chở vàng,” và “chở cây bạch đàn rất nhiều.” Câu 18; 1 Các-vua 9: 26, 28; 10: 11.

          Những thu nhập của nhà vua cùng rất nhiều những thần dân của ông đã gia tăng rất lớn, nhưng quả là một cái giá! Qua tính tham lam và sự thiển cận của những người mà đã được ủy thác những lời dạy bảo của Đức Chúa Trời, vô số những đám đông làm chật kín những con đường đi lại đã bị để trong sự không biết gì về Đức Giê-hô-va.

          Tương phản với đường lối được đeo đuổi bởi Sa-lô-môn là đường lối mà Đấng Christ đã đi theo khi Ngài ở trên đất này. Đấng Cứu Chuộc, mặc dù có được “cả quyền phép”, đã chưa bao giờ sử dụng quyền năng này cho việc tự đề cao. Không một ước mơ về việc chinh phục thế gian, về sự vĩ đại của thế gian nào làm tì vết tính hoàn hảo của sự phục vụ tha nhân của Ngài. Ngài phán, “Con cáo có hang, chim trời có ổ; song Con người không có chỗ mà gối đầu.” Ma-thi-ơ 8: 20. Những ai, đáp lại lời kêu gọi của thời giờ, đã bước vào sự phụng sự của, nên học kỹ những phương pháp của Ngài. Ngài đã tận dụng những cơ hội có thể tìm thấy dọc theo những con đường lớn của sự di chuyển.        

        ​    Trong những lúc dừng lại giữa những chuyến hành trình đi về, Đức Chúa Jêsus đã trú ở Ca-bê-na-um mà đã được biết đến như là “thành mình Ngài.” Ma-thi-ơ 9: 1. Nằm ở vị trí trên con đường từ Đa-mách đến Giê-ru-sa-lem và Ê-díp-tô, và hướng về Địa Trung Hải, nó đã được làm cho thích ứng để trở nên trung tâm làm việc của Đấng Cứu Chuộc. Dân chúng từ nhiều vùng đất đã đi ngang qua thành phố hoặc nán lại để nghỉ ngơi. Ở đó Đức Chúa Jêsus đã gặp gỡ những người của mọi nước và mọi tầng lớp, và do đó mà những bài học của Ngài đã được đem đến những quốc gia khác cũng như đến cho nhiều gia đình. Bởi cách thức này, đã khơi gợi sự quan tâm trong những lời tiên tri chỉ đến một Đấng Mê-si, sự tập trung đã được hướng về Đấng Cứu Chuộc, và nhiệm vụ của Ngài đã được mang ra trước thế gian.

        ​    Trong những ngày này của chúng ta, các cơ hội để tiếp xúc với những người nam cùng người nữ của mọi tầng lớp và nhiều dân tộc thì còn lớn hơn rất nhiều nếu so với những ngày của Y-sơ-ra-ên. Những con đường đi lại đã được gia tăng cả ngàn lần.

        ​    Như Đấng Christ, những sứ giả của Đấng Rất Cao ngày hôm nay nên chiếm giữ vị trí của họ trong những con đường lớn này, nơi mà họ có thể gặp gỡ những đám đông đi ngang từ mọi vùng của thế giới. Như Ngài, ẩn náu bản thân trong Đức Chúa Trời, họ phải gieo hạt giống tin lành, trình bày trước những người khác những lẽ thật quí báu của Kinh Thánh mà sẽ bám rễ sâu nơi tâm trí cũng như tấm lòng, và sẽ dẫn đến sự sống đời đời.

        ​    Nghiêm trọng thay những bài học về sự thất bại của Y-sơ-ra-ên trong suốt những năm thánh khi vị lãnh đạo và dân sự xây khỏi mục đích cao thượng mà họ đã được kêu gọi để hoàn thành. Ở điểm mà họ đã yếu đuối, ngày cả đến mức độ củ sự thất bại, dân Y-sơ-ra-ên ngày nay của Đức Chúa Trời—những người đại diện của thiên đàng để cấu thành Hội Thánh thật của Đấng Christ, phải trở nên mạnh mẽ; bởi họ đã được ủy thác trách nhiệm hoàn tất công việc mà đã được giao phó cho con người, và báo hiệu ngày của những sự thưởng phạt sau rốt. Nhưng chúng ta vẫn còn phải đối diện với ảnh hưởng mà đã đánh bại dân Y-sơ-ra-ên trong thời trị vì của Sa-lô-môn. Những sức mạnh của kẻ thù của tất cả sự công bình thì đã được củng cố một cách mạnh mẽ; chỉ bởi quyền năng của Đức Chúa Trời mới có thể giành được chiến thắng. Sự xung đột trước mặt chúng ta kêu gọi sự thực thi một tin thần quên mình, không nên tin cậy nơi bản thân nhưng hãy nương tựa nơi Đức Chúa Trời, hãy sử dụng các khôn ngoan mọi cơ hội để cứu rỗi linh hồn. Ơn phước của Đức Chúa Trời sẽ ở trên Hội Thánh Ngài khi họ tấn tới một cách hiệp nhất, bày tỏ cho thế giới đang nằm trong nơi tối tăm của sự sai lạc vẻ đẹp của sự thánh khiết như đã được biểu lộ trong một tinh thần hy sinh giống như Đấng Christ, trong sự tán dương của Chúa hơn là của con người, và trong sự phục vụ yêu thương và không mệt mỏi cho những ai đang rất cần những ơn phước của tin lành.

Leave a Reply


  • Categories

  • Liên Hệ

    Email: theheritagekeepers247@gmail.com