“Đoạn, Sa-lô-môn an giấc cùng các tổ phụ người, và được chôn trong thành Đa-vít, cha người. Rô-bô-am, con trai người, cai trị thế cho người.” 1 Các-vua 11: 43.

         Chẳng bao lâu sau khi lên ngôi, Rô-bô-am đã đi đến Si-chem nơi mà ông mong đợi sẽ nhận được một sự thừa nhận chính thức từ tất cả các chi phái. “Cả Y-sơ-ra-ên đều đã tới Si-chem đặng tôn người làm vua.” 2 Sử-ký 10: 1.

         Giữa những người hiện diện có Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát chính là Giê-rô-bô-am người mà trong thời trị vì của Sa-lô-môn được biết đến như là “một người mạnh dạn” và là người đã được đấng tiên tri A-hi-gia ở Si-lô bày tỏ cho sứ điệp đáng giật mình, “Kìa, Ta sẽ đoạt lấy nước khỏi tay Sa-lô-môn và trao cho ngươi mười chi phái của nước ấy.” 1 Các-vua 11: 28, 31.

         Qua sứ giả của Ngài, Đức Giê-hô-va đã phán bảo cho Giê-rô-bô-am cách rõ ràng về sự cần thiết của việc phân chia vương quốc. Sự phân chia này phải xảy ra, Ngài đã tuyên bố, “bởi vì chúng nó đã từ bỏ Ta, đi thờ lạy Át-tạt-tê, nữ thần của dân Si-đôn, Kê-mốt, thần xứ Mô-áp, và Minh-côm, thần của dân Am-môn. Chúng nó không đi theo các đường lối Ta, đặng làm điều ngay thẳng tại trước mặt Ta, y như Đa-vít.” Câu 33.

          Giê-rô-bô-am đã được phán dạy thêm rằng đất nước không nên phân chia trước khi sự trị vì của Sa-lô-môn chấm dứt. Đức Giê-hô-va phán, “Nhưng Ta sẽ chẳng cất lấy cả nước khỏi tay Sa-lô-môn; song vì Đa-vít, kẻ tôi tớ Ta, Ta đã chọn, Ta sẽ lập người làm vua trọn đời người sống, bởi vì Đa-vít đã giữ các điều răn và luật lệ Ta. Nhưng Ta sẽ đoạt lấy khỏi tay con trai người, mà trao cho ngươi mười chi phái.” Câu 34, 35.

         Mặc dù Sa-lô-môn đã mong mỏi sửa soạn tâm trí của Rô-bô-am người được ông chọn lựa để kế ngôi để khôn ngoan đương đầu với sự khủng hoảng được đấng tiên tri của Đức Chúa Trời phán trước, ông đã chưa bao giờ có thể sử dụng một ảnh hưởng mạnh mẽ đúng đắn về điều thiện trên tâm trí của con trai mình người mà sự dạy dỗ thuở ban đầu đã bị hết sức thờ ơ. Rô-bô-am đã nhận được từ mẹ của ông một người phụ nữ Am-môn dấu ấn của một bản tánh dao động. Có những lúc ông đã nỗ lực để phụng sự Đức Chúa Trời và đã được phú cho một chừng mực của sự phồn vinh; nhưng ông đã không kiên định và cuối cùng đã quy phục trước những ảnh hưởng gian ác mà đã vây quanh ông từ thuở ấu thơ. Trong những sai lầm từ cuộc đời của Rô-bô-am cùng với sự bội đạo sau rốt của ông đã bày tỏ hậu quả đáng kinh của việc kết hiệp với những người phụ nữ thờ hình tượng của vua Sa-lô-môn.

        Các chi phái đã chịu đựng rất lâu những sai lầm trầm trọng dưới những phương sách áp bức của người cai trị trước đó của họ. Sự trị vì xa hoa của Sa-lô-môn trong suốt giai đoạn bội đạo của người đã khiến cho người đánh thuế rất nặng trên dân sự và đòi hỏi họ phải hầu hạ rất nhiều. Trước khi tiến tới việc lên ngôi của vị cầm quyền mới, những nhà lãnh đạo từ các chi phái đã quyết tâm làm sáng tỏ việc con trai của vua Sa-lô-môn có giảm bớt những gánh nặng này hay không. “Đoạn Giê-rô-bô-am và cả Y-sơ-ra-ên đều đến tâu với Rô-bô-am rằng: Thân phụ vua đã gán ách nặng cho chúng tôi, vậy bây giờ, hãy giảm nhẹ sự phục dịch khó nhọc này và các ách nặng nệ mà thân phụ vua đã gán trên chúng tôi, thì chúng tôi sẽ phục sự vua.”

         Muốn được nghe lời khuyên của các cố vấn trước khi vạch ra chính sách của mình, Rô-bô-am đã trả lời, “Khỏi ba ngày, các ngươi hãy trở lại cùng ta. Dân sự bèn lui về.

       “Vua Rô-bô-am bàn nghị cùng các trưởng lão đã chầu trước mặt Sa-lô-môn, cha người, trong lúc Sa-lô-môn còn sống, mà rằng: Các ngươi bàn luận cho ta phải trả lời với dân sự này làm sao? Các trưởng lão thưa lại với vua rằng: Nếu vua đãi dân sự này tử tế, ăn ở vui lòng cùng chúng nó, và lấy lời hiền lành nói với chúng nó, ắt chúng nó sẽ làm tôi tớ vua mãi mãi.” 2 Sử-ký 10: 3-7.

       Lấy làm không bằng lòng, Rô-bô-am hướng sang những kẻ trai trẻ là những người mà ông đã kết giao với trong thời trai tráng và thuở ban đầu tuổi trưởng thành của mình, và hỏi chúng rằng, “Dân sự này đã tâu với ta rằng: Hãy giảm nhẹ cái ách mà thân phụ vua đã gán cho chúng tôi; vậy, các ngươi bàn luận cho ta phải đáp với chúng nó làm sao?” 1 Các-vua 12: 9. Những kẻ tre tuổi này đề nghị rằng ông phải đối xử với những thần dân của vương quốc ông cách nghiêm khắc và phải cho họ hiểu rõ ràng ngay từ đầu, ông sẽ không cho phép bất kỳ mộ sự quấy nhiễu nào với những với những mong muốn của cá nhân ông.

        Được tâng bốc bởi viễn thực thi quyền lực tối thượng, Rô-bô-am đã quyết định không đếm xỉa đến lời khuyên răn của các trưởng lão trong vương quốc của mình, và lập những kẻ trẻ tuổi làm cố vấn cho mình. Vả đến ngày đã định, khi “Giê-rô-bô-am và cả dân sự đều đi đến Rô-bô-am” để nhận một lời tuyên bố về chính sách mà ông dự định đeo đuổi, Rô-bô-am đã “đáp lời với dân sự cách xẳng xớm . . . rằng: Cha ta đã khiến cho ách các ngươi nặng nề; ta sẽ làm ách các ngươi càng nặng nề hơn nữa. Cha ta có sửa phạt các ngươi bằng roi da, ta sẽ sửa phạt các ngươi bằng roi bọ cạp.” Câu 12-14.

        Giá như Rô-bô-am cùng những cố vấn thiếu kinh nghiệm của ông hiểu được ý muốn thiên thượng về quốc gia Y-sơ-ra-ên, thì họ sẽ lắng nghe yêu cầu của dân sự về những sự cải thiện rõ rệt trong việc quản lý chính quyền. Nhưng trong thời giờ của cơ hội mà đã đến với họ trong suốt sự họp mặt tại Si-chem, họ đã không suy luận từ nguyên nhân đến kết quả, và do đó đã vĩnh viễn làm yếu đi ảnh hưởng của mình trên phần lớn dân sự. Tính quả quyết được bày tỏ của họ để duy trì và tăng thêm đối với sự áp bức mà đã được giới thiệu trong thời trị vì của Sa-lô-môn thì gián tiếp mâu thuẫn với kế hoạch của Đức Chúa Trời cho Y-sơ-ra-ên, và để cho dân sự một cơ hội lớn để nghi ngờ tính chân thật trong những động cơ của họ. Trong sự nỗ lực kém khôn ngoan và tàn nhẫn để thực thi quyền lực này, nhà vua cùng những cố vấn chọn lựa của ông đã tiết lộ sự kiêu hãnh về địa vị và quyền lực.

          Đức Giê-hô-va đã không cho phép Rô-bô-am thực hiện chính sách mà ông đã vạch ra. Giữa các chi phái có hàng ngàn người đã trở nên khuấy động thực sự trước những phương sách áp bức của sự trị vì của Sa-lô-môn, và những người này giờ đây cảm thấy rằng họ không thể làm gì hơn ngoại trừ việc nỗi loạn chống lại nhà Đa-vít. “Khi cả Y-sơ-ra-ên thấy vua không khứng nghe lời họ, bèn đáp cùng người rằng: Chúng ta có phần gì cùng Đa-vít? Chúng ta chẳng có cơ nghiệp chi với con trai Y-sai. Hỡi Y-sơ-ra-ên! Hãy trở về trại mình đi. Ớ Đa-vít! Từ rày ngươi khá coi chừng nhà của ngươi. Như vậyY-sơ-ra-ên đều rút về các trại của họ.” Câu 16.

         Lỗ hổng mà đã được tạo ra bởi lời phát biểu hấp tấp của Rô-bô-am cho thấy rằng nó không thể sửa chữa lại được. Từ lúc ấy mười hai chi phái của Y-sơ-ra-ên đã bị phân chia, hai chi phái Giu-đa và Bên-gia-min tạo thành quốc gia Giu-đa ở phía dưới hay là phía nam, dưới sự trị vì của Rô-bô-am; trong khi mười chi phái phía bắc hình thành và duy trì một chính quyền độc lập, được biết đến như là quốc gia Y-sơ-ra-ên, với Giê-rô-bô-am là người cai trị của họ. Do đó đã ứng nghiệm lời tiên báo của vị tiên tri về sự phân chia của đất nước. “Điều đó bởi Đức Giê-hô-va dẫn đến.” Câu 15.

          Khi Rô-bô-am thấy mười chi phái rút đi lòng trung thành của họ khỏi mình, ông đã thức tỉnh để hành động. Qua một trong những người có ảnh hưởng của đất nước, “A-đô-ram là người coi sóc việc cống thuế,” ông đã thực hiện nỗ lực để giảng hòa với họ. Nhưng vị đại sứ của sự bình an này đã nhận được sự đối xử mang bằng chứng về cảm xúc chống nghịch lại cùng Rô-bô-am. “Cả Y-sơ-ra-ên ném đá người chết.” Hoảng hốt trước bằng chứng về sức mạnh của cuộc nổi loạn, “vua Rô-bô-am lật đật lên xe, trốn về Giê-ru-sa-lem.” Câu 18.

          Tại Giê-ru-sa-lem, người “nhóm hết thảy nhà Giu-đa và chi phái Bên-gia-min, số là một trăm tám mươi ngàn người lính chiến kén chọn, toan tranh chiến cùng nhà Y-sơ-ra-ên đặng bắt nước phục lại Rô-bô-am, con trai Sa-lô-môn. Nhưng Đức Chúa Trời phán cùng Sê-ma-gia, người của Đức Chúa Trời, rằng: Hãy nói cùng Rô-bô-am, con trai Sa-lô-môn, vua Giu-đa, cùng hết thảy nhà Giu-đa, Bên-gia-min, và phần dân sự còn lại, mà rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi chớ đi lên đánh anh em mình, là dân Y-sơ-ra-ên. Mỗi người hãy trở về nhà mình, vì sự này bởi Ta mà xảy đến. Chúng vâng theo lời Đức Giê-hô-va mà trở về theo mạng lịnh của Ngài.” Câu 21-24.

           Suốt ba năm vua Rô-bô-am cố thu lợi bởi kinh nghiệm đau buồn vào buổi đầu của sự trị vì của mình; và trong nỗ lực này, ông đã phồn vinh. Ông “xây các thành trong đất Giu-đa,” và “làm cho các đồn lũy vững chắc, đặt những quan tướng ở đó, chứa lương thực, dầu và rượu.” Ông thận trọng để làm cho những thành lũy này “rất bền vững.” 2 Sử-ký 11: 5, 11, 12. Nhưng bí quyết của sự phồn vinh của Giu-đa trong suốt những năm đầu trị vì của Rô-bô-am không nằm trong những phương sách này. Mà đó chính là trong sự nhận biết của họ rằng Đức Chúa Trời là Đấng Cai Trị chủ tể mà đã đưa hai chi phái Giu-đa và Bên-gia-min vào vị trí ưu thế. Nhiều người kính sợ Đức Chúa Trời từ các chi phái phía bắc đã được cộng thêm vào số họ. Sách ghi chép viết rằng, “Lại trong các chi phái Y-sơ-ra-ên, phàm ai rắp lòng tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, thì đều theo những thầy tế lễ và người Lê-vi mà đến Giê-ru-sa-lem đặng tế lễ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình. Trong ba năm, chúng làm cho nước Giu-đa vững chắc, giúp đỡ Rô-bô-am, con trai của Sa-lô-môn, trở nên cường thạnh; vì trong ba năm ấy chúng đi theo con đường của Đavít và Salômôn.” Câu 16,17

        Trong việc tiếp tục đường lối này mở ra cơ hội cho Rô-bô-am chuộc lại phần lớn những lỗi lầm của quá khứ và lấy lại sự tin tưởng nơi khả năng để lãnh đạo cùng với sự suy xét của ông. Nhưng ngòi bút của sự soi dẫn đã mô tả lý lịch đáng buồn của người thừa kế của Sa-lô-môn như là một người đã thất bại trong việc sử dụng một ảnh hưởng mạnh mẽ cho sự trung thành với Đức Giê-hô-va. Bản tính cứng đầu, tự tin, theo ý bản thân và thiên về sự thờ hình tượng, tuy vậy, giá như ông đã đặt sự tin tưởng hoàn toàn nơi Đức Chúa Trời, thì ông đã phát triển một sức mạnh về bản tánh, một đức tin kiên định và một sự đầu phục thoe những mạng lịnh thiên thượng. Nhưng theo dòng trôi của thời gian, nhà vua đã đặt sự tin tưởng của ông nơi quyền lực của địa vị và trong những thành lũy mà ông đã củng cố. Dần dần ông đã mở đường cho việc thừa hưởng sự yếu đuối, cho đến khi ông hoàn toàn phó mặc ảnh hưởng của mình về phía của sự thờ hình tượng. “Xảy khi nước của Rô-bô-am vừa được lập vững bền, và người được cường thạnh, thì người và cả Y-sơ-ra-ên liền bỏ luật pháp của Đức Giê-hô-va.” 2 Sử-ký 12: 1.

        Những từ ngữ “người và cả Y-sơ-ra-ên” thì thật đáng buồn và thật ý nghĩa làm sao! Những người mà đã được Đức Chúa Trời chọn lựa để đứng vững như là một ánh sáng cho những dân tộc xung quanh lại đang xây khỏi Nguồn sức mạnh của họ và tìm cách trở nên giống như những dân tộc gần gủi với họ. Như với Sa-lô-môn thể nào, thì với Rô-bô-am cũng như vậy ảnh hưởng về gương xấu đã đẩy đưa nhiều người lạc lối. Và như với họ,thì cũng như vậy một mức độ ít nhiều hơn trong ngày hôm nay, với những người phó bản thân mình để làm điều ác ảnh hưởng của việc làm sai trái không chỉ giới hạn trong người thực hiện. Không một người nào chỉ sống cho bản thân mình. Không một người nào chết mất riêng cho tội lỗi của mình. Mỗi cuộc đời sẽ là một ánh sáng mà sẽ rạng soi và khích lệ con đường của những người khác, hay sẽ là một sự ảnh hưởng tăm tối và phiền muộn mà hướng về sự tuyệt vọng và hư mất. Chúng ta dẫn dắt những người khác hoặc là đi lên sự sống hạnh phúc và vĩnh cửu, hoặc là đi xuống sự đau khổ và chết mất đời đời. Và nếu bởi những việc làm của mình mà chúng ta củng cố hay là ép buộc những người xung quanh chúng ta đi đến hoạt động của những quyền lực ma quỉ, thì chúng ta phải chia sớt tội lỗi của họ.

          Đức Chúa Trời đã không để cho sự bội đạo của vị lãnh đạo của Giu-đa duy trì mà không bị trừng phạt. “Trong năm thứ năm đời vua Rô-bô-am, Si-sắc, vua Ê-díp-tô, kéo lên hãm đánh Giê-ru-sa-lem; có dẫn theo một ngàn hai trăm cỗ xe và sáu vạn lính kỵ; lại có dân kéo lên với người, số không thể đếm đặng. Si-sắc bèn chiếm lấy các thành bền vững thuộc về Giu-đa, rồi đến tận Giê-ru-sa-lem.

         “Tiên tri Sê-ma-gia đến cùng Rô-bô-am và các kẻ làm đầu Giu-đa, được nhóm tại Giê-ru-sa-lem để trốn khỏi Si-sắc, mà nói rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi đã bỏ Ta, nên Ta cũng đã bỏ các ngươi vào tay Si-sắc.” Câu 2-5. Dân sự đã chưa đi đến sự bội đạo đến nỗi họ coi khinh những sự phán xét của Đức Chúa Trời. Trong những sự mất mát phải chịu bởi sự xâm lăng của Si-sắc, họ đã thừa nhận bản tay của Đức Chúa Trời và có một lúc đã hạ mình xuống. Họ đã nhận thức rằng, “Đức Giê-hô-va là công bình.”

        “Khi Đức Giê-hô-va thấy chúng hạ mình xuống, thì có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Sê-ma-gia rằng: Chúng nó đã hạ mình xuống, Ta sẽ không hủy diệt chúng nó; song sẽ giải cứu chúng một chút, và cơn giận Ta sẽ chẳng cậy tay Si-sắc mà đổ ra trên Giê-ru-sa-lem; song chúng nó sẽ bị phục dịch hắn, hầu cho biết phục sự Ta và phục dịch nước khác là có phân biệt thể nào.

         “Si-sắc, vua Ê-díp-tô, kéo lên hãm đánh Giê-ru-sa-lem, đoạt lấy các bửu vật của đền Đức Giê-hô-va và cùng vua: Người đoạt lấy hết thảy; cũng đoạt lấy những khiên vàng mà Sa-lô-môn đã làm. Vua Rô-bô-am bèn làm những khiên bằng đồng thế cho, và giao nơi tay các quan chánh thị vệ canh giữ cửa của cung điện vua. Khi vua hạ mình xuống, cơn giận của Đức Giê-hô-va lánh khỏi người, không diệt hết thảy; và lại trong Giu-đa còn có sự lành.” Câu 6-12. Nhưng khi bàn tay của sự hoạn nạn được rút đi, và đất nước phồn vinh trở lại, thì nhiều người đã quên những nỗi lo sợ của họ và quay trở lại với sự thờ hình tượng. Giữa những người này chính là bản thân vua Rô-bô-am. Mặc dù đã hạ mình bởi tai họa mà đã giáng trên mình, ông đã không biến kinh nghiệm này thành một điểm rẽ quyết định trong cuộc đời mình. Quên đi bài học mà Đức Chúa Trời đã gắng sức để dạy dỗ mình, ông đã lại rơi vào trong những tội lỗi mà đã đem những sự phán xét xuống trên đất nước. Sau một vài năm nhục nhã ít ỏi mà trong suốt giai đoạn đó nhà vua đã “làm điều ác, vì không rắp lòng tìm cầu Đức Giê-hô-va,” thì “Rô-bô-am an giấc cùng tổ phụ mình, được chôn trong thành Đa-vít; A-bi-gia, con trai người, cai trị thế cho người.” Câu 14, 16.

          Với sự phân chia đất nước giai đoạn đầu thời kỳ trị vì của Rô-bô-am, sự vinh hiển của Y-sơ-ra-ên đã bắt đầu rời khỏi, chẳng bao giờ trở lại trong sự toàn hảo của nó nữa. Nhiều lần trong những thế kỷ sau đó, ngai của Đa-vít đã được chiếm giữ bởi những người có đạo đức xứng đáng và có sự suy xét nhìn xa trông rộng, và dưới sự cai trị của các người cầm quyền này, những ơn phước giáng trên dân Giu-đa đã mở rộng ra cho những dân tộc xung quanh. Có những lúc danh của Đức Giê-hô-va được tôn cao trên mọi thần giả dối, và luật pháp của Ngài được gìn giữ cách tôn kính. Thỉnh thoảng, các tiên tri mạnh mẽ đã dấy lên để làm cho vững mạnh đôi tay của những nhà lãnh đạo và để động viên dân sự tiếp tục trong sự trung tín. Nhưng những mầm mống của tội lỗi đã nẩy nở khi Rô-bô-am lên ngôi sẽ ngôi, sẽ chẳng bao giờ được nhổ bỏ hoàn toàn; và nhiều lúc dân sự mà đã từng được Đức Chúa Trời ban cho đặc ân lại sa ngã xuống thấp đến nỗi trở nên một câu tục ngữ giữa những dân ngoại.

           Tuy vậy, bất chấp sự bướng bỉnh của những người nghiêng về các lệ thường của việc thờ hình tượng, Đức Chúa Trời trong sự nhân từ sẽ làm mọi việc trong quyền năng của Ngài để cứu vớt đất nước bị phân chia khỏi sự hủy diệt hoàn toàn. Khi những năm tháng trôi qua và ý định của Ngài cho Y-sơ-ra-ên dường như trở nên bị ngăn trở hoàn toàn bởi các mưu chước của những kẻ được xúi giục bởi các tác nhân của Sa-tan, Ngài vẫn bày tỏ những mục đích thiện ý của Ngài qua sự phu tù và khôi phục của dân tộc được chọn lựa.

          Việc phân chia đất nước chỉ là sự khởi đầu của một lịch sử tuyệt dịu, mà từ nơi ấy đã bày tỏ sự chịu đựng dai dẳng và sự nhân từ dịu dàng của Đức Chúa Trời. Từ cuộc thử thách gắt gao của sự hoạn nạn mà họ phải trải qua bởi sự di truyền cùng những khuynh hướng tội lỗi được nuôi dưỡng, những người mà Đức Chúa Trời đang tìm cách để thanh tẩy để trở nên một dân tộc sốt sắng những công việc lành thuộc riêng của ngài, cuối cùng cũng đã thừa nhận:

          “Hỡi Đức Giê-hô-va, chẳng ai giống như Ngài! Ngài là lớn, danh Ngài có sức mạnh lớn lắm. Hỡi Vua các nước! Ai chẳng nên sợ Ngài? .  Vì trong những người khôn ngoan của các nước, tỏ ra sự vinh hiển mình, chẳng có ai giống như Ngài.” “Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thật; Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống, là Vua đời đời.” Giê-rê-mi 10: 6, 7, 10.

         Và những người thờ hình tượng cuối cùng cũng đã học được bài học rằng những thần giả dối thì bất lực để nâng đỡ và giải cứu. “Những thần này không làm nên các từng trời, cũng không làm nên đất, thì sẽ bị diệt đi khỏi trên đất và khỏi dưới các từng trời.” Câu 11. Chỉ trong sự trung thành với Đức Chúa Trời hằng sống Đấng Tạo Hóa của tất cả và là Đấng Cai Trị trên tất cả con người mới có thể tìm thấy sự ngơi nghỉ và bình an.

           Cuối cùng, trong sự hiệp nhất, những người được uốn nắn và ăn năn của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đã làm mới lại mối quan hệ giao ước với Đức Giê-hô-va của các đạo binh, Đức Chúa Trời của các tổ phụ của họ; và họ đã tuyên bố về Ngài rằng:

            “Chính Đức Giê-hô-va đã làm nên đất bởi quyền năng Ngài,

              Đã lập nên thế gian bởi sự khôn ngoan Ngài,

        ​     Đã giương các từng trời ra bởi sự thông sáng Ngài.

        ​     “Khi Ngài phát ra tiếng, thì có tiếng động lớn của nước trong các từng trời;

        ​     Ngài làm cho hơi nước từ đầu cùng đất bay lên;

        ​     Làm cho chớp theo mưa dấy lên, kéo gió ra từ trong kho Ngài;

        ​     “Người ta đều trở nên u mê khờ dại,

        ​     Thợ vàng xấu hổ vì tượng chạm của mình;

        ​     Vì các tượng đức chẳng qua là giả dối, chẳng có hơi thở ở trong;

        ​     “Chỉ là sự hư vô, chỉ là đồ đánh lừa;

        ​     Đến ngày thăm phạt sẽ bị diệt mất.

        ​     Sản nghiệp của Gia-cốp thì chẳng giống như vậy;

        ​     “Vì Ngài đã tạo nên mọi sự,

        ​     Và Y-sơ-ra-ên là chi phái của cơ nghiệp Ngài.

        ​     Danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân.” Câu 12-16.

Leave a Reply


  • Categories

  • Liên Hệ

    Email: theheritagekeepers247@gmail.com