Đức Chúa Trời phán với chúng ta qua thiên nhiên, qua Kinh Thánh, qua sự chăm gìn của Ngài và qua ảnh hưởng của Đức Thánh Linh. Nhưng những phương tiện nầy chưa đủ. Chúng ta cần phải thố lộ lòng mình ra cho Chúa. Muốn được sự sống và năng lực thiêng liêng, chúng ta cần phải có sự thông công mật thiết với Thiên Phụ. Tâm thần của chúng ta có thể hướng về Chúa, chúng ta có thể suy ngẫm về công việc của Ngài, sự thương xót, ơn phước; nhưng với nghĩa chính xác nhất, thì chúng ta chưa thông công với Ngài. Muốn thông công với Chúa chúng ta cần phải bày tỏ và chia sẻ mọi sinh hoạt hằng ngày của chúng ta cho Ngài.

     Cầu nguyện là mở lòng ra cho Đức Chúa Trời cũng như cho người bạn thân. Cầu nguyện không phải tỏ cho Đức Chúa Trời biết chúng ta là người thế nào, nhưng là để dọn mình tiếp rước Chúa. Cầu nguyện không phải để đem Chúa hạ xuống tới mức của chúng ta, nhưng là nâng mình lên với Ngài.

    Khi Đức Chúa Giê-su còn sống trên đất, Ngài dạy các môn đồ cách cầu nguyện. Ngài khuyên họ trình bày mọi nhu cầu hằng ngày lên cho Chúa và giao phó mọi phiền lo cho Ngài. Chúa đã bảo đảm với các môn đồ rằng lời cầu xin của họ sẽ được đoái đến, thì lời bảo đảm ấy cũng được ứng dụng cho chúng ta ngày nay vậy.

    Trong khi còn sống chung với nhân loại, chính mình Đức Chúa Giê-su cũng thường cầu nguyện. Đấng Cứu Thế của chúng

ta cũng hòa mình với mọi nhu cầu và yếu đuối của chúng ta. Trong phương diện, đó Chúa là Đấng thường cầu xin, khẩn thiết tìm cầu nơi Cha để được thêm sức mới, để có thể là gương mẫu cho chúng ta trong mọi sự, Ngài là người anh của chúng ta trong khi yếu đuối, Ngài “bị thử thách trong mọi mặt như chúng ta, nhưng không hề phạm tội”, vốn là Đấng vô tội nên bản tánh của Ngài là chống trả lại điều ác. Ngài cũng phải chịu những cuộc giao tranh, những dằn vặt của tâm hồn trong thế gian tội ác nầy như chúng ta. Vì mang lấy nhân thể nên Ngài cần phải cầu nguyện và xem sự cầu nguyện như là một đặc ân. Ngài tìm được sự an ủi và niềm vui trong lúc thông công với Cha Ngài. Nếu Đấng Cứu Chuộc nhân loại, tức là Con của Đức Chúa Trời cảm thấy cần phải cầu nguyện, thì những con người yếu đuối đầy tội lỗi, cần phải hết lòng và bền đổ cầu nguyện hơn biết bao nhiêu.

      Thiên Phụ đang chờ đợi để ban ơn phước trọn lành của Ngài cho chúng ta. Chúng ta hãy hưởng đặc ân uống nước nơi dòng yêu thương lai láng kia. Nhưng lạ lùng thay, chúng ta lại cầu nguyện quá ít. Đức Chúa Trời sẵn sàng và muốn nghe những lời cầu xin thành thật của bầy con hèn hạ nhất của Ngài, dầu vậy chúng ta rất miễn cưỡng khi trình bày mọi nhu cầu của mình lên cho Chúa. Thiên sứ nghĩ thế nào về con người khốn khổ, tuyệt vọng, phải chịu cám dỗ, mà lòng bác ái vô biên của Đức Chúa Trời hướng về họ, sẵn sàng ban cho nhiều hơn những gì họ cầu xin hay mơ tưởng đến, nhưng họ lại cầu nguyện quá ít và đức tin cũng chẳng bao nhiêu? Thiên sứ thích phủ phục trước mặt Đức Chúa Trời, thích được ở bên Ngài luôn luôn. Họ xem sự thông công với Chúa là niềm vui cao quí nhất. Mặt khác, con người dưới thế phải cần đến sự tương trợ của Đức Chúa Trời biết bao, nhưng lại dường như thỏa lòng dò bước chân đi mà không cần ánh sáng của Đức Thánh Linh Ngài, cũng không cần mối liên kết của sự hiện diện Ngài.

      Sự âm u của điều ác vây phủ lấy những kẻ xao lãng sự cầu nguyện. Kẻ thù thì thầm bên tai họ những lời cám dỗ để xúi giục họ phạm tội. Sở dĩ những điều ấy xảy ra là vì họ không sử dụng đặc ân của Đức Chúa Trời ban cho, là cầu nguyện. Trong khi cầu nguyện là chìa khóa ở trong bàn tay đức tin để mở cửa kho tàng trên trời, là nơi chứa những quyền năng bất tận của Đấng Toàn Năng, thì tại sao con trai và con gái của Đức Chúa Trời lại xao lãng cầu nguyện? Nếu thiếu sự cầu nguyện không ngừng và nếu không liên tục gìn giữ, chúng ta sẽ gặp hiểm họa là dễ dàng trở nên bất cẩn và lìa xa con đường chánh đáng. Kẻ đối địch của chúng ta sẽ không ngừng tìm kiếm mọi cách ngăn cản con đường đến với ngôi ơn phước, nó muốn chúng ta không tiếp nhận được đức tin, ân điển và sức lực để chống trả lại sự cám dỗ.

     Muốn Chúa nghe và đáp lời cầu nguyện, chúng ta phải thỏa mãn vài điều kiện sau đây: Một trong những điều kiện đầu tiên ấy là chúng ta phải cảm thấy mình cần được Ngài giúp đỡ. Chúa đã hứa: “Ta sẽ rót nước trên kẻ khát, cho suối chảy trên đất khô.” Ê-sai 44:3. Những ai đói khát sự công bình, trông mong nơi Đức Chúa Trời, có thể chắc chắn rằng người ấy sẽ được no đủ. Tấm lòng phải mở rộng để tiếp đón ảnh hưởng của Đức Thánh Linh, nếu không, người không thể nào tiếp nhận ơn phước của Đức Chúa Trời được.

    Chính những nhu cầu lớn lao của chúng ta, tự nó đủ là một lý lẽ vững chắc để khẩn nguyện một cách hùng hồn cho chúng ta rồi. Nhưng chúng ta phải tìm cầu Đức Chúa Trời để nhờ Ngài thỏa đáp mọi sự cho ta. Ngài từng phán: “Hãy xin, sẽ được.” Lại nữa, “Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao?” Ma-thi-ơ 7:7; Rô-ma 8:32.

     Nếu chúng ta còn giữ sự bất chánh ở trong lòng, còn khư khư ôm lấy những tội quá rõ ràng, Chúa sẽ chẳng nhậm lời xin của chúng ta đâu. Nhưng lời cầu nguyện của kẻ có tội, của tấm lòng đau thương thống hối, lúc nào cũng được tiếp nhận cả. Khi mọi lỗi lầm đã được sửa chữa, chúng ta có thể tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ đáp lời cầu xin của chúng ta. Những công đức riêng của chúng ta không thể nào giúp mình hưởng được ân điển của Chúa. Chính sự hy sinh cao cả của Đức Chúa Giê-su sẽ cứu chúng ta. Huyết Ngài sẽ tẩy sạch mọi tội nhơ của chúng ta. Tuy vậy chúng ta cũng còn có việc phải làm, để đủ điều kiện, thì lời cầu xin của chúng ta mới được Chúa nhận.

     Một yếu tố khác để được đáp lời cầu xin, là đức tin. “Kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.” Hê-bơ-rơ 11:6. Đức Chúa Giê-su phán cùng các môn đồ Ngài rằng: “Mọi điều các con xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các con.” Mác 11:24. Chúng ta có tin lời Ngài không?

     Lời bảo đảm của Chúa lớn lao bao la và chính Chúa là Đấng thành tín đã hứa như vậy. Khi chúng ta không nhận được ngay lập tức những điều mình cầu xin, hãy cứ tin rằng Đức Chúa Trời đã nghe và Ngài sẽ đáp lời cho chúng ta. Chúng ta thường bất nhất và thiển cận, nên đôi khi chúng ta cầu xin những điều không có lợi cho mình, và Thiên Phụ đầy lòng bác ái của Ngài, sẽ ban cho ta những gì tốt nhất—tức là điều chúng ta sẽ ao ước, nếu được ơn thiêng liêng để nhận xét sự việc đúng cách. Khi lời cầu xin của chúng ta dường như không được đáp lại, chúng ta hãy vững tin nơi lời hứa của Chúa, vì không sớm thì muộn, chắc chắn ta sẽ nhận được ơn phước mà mình cần nhất. Nếu cho rằng lời cầu nguyện lúc nào cũng được thỏa đáp đúng y cách thức và điều mình xin, thì đó chỉ là điều phỏng đoán mà thôi. Đức Chúa Trời vô cùng khôn ngoan, Ngài không bao giờ mắc sai lầm. Chúa cũng rất nhân từ, nên chẳng thể không ban cho những kẻ bước theo đường ngay thẳng. Vậy, bạn đừng sợ hãi gì mà không trông cậy nơi Chúa, dầu bạn thấy lời cầu nguyện của mình không được chấp nhận ngay lập tức. Nên trông cậy nơi lời hứa bảo đảm của Ngài: “Hãy xin sẽ được.”

     Nếu ta nghe theo lời khuyên nhủ kia với lòng nghi ngờ và lo sợ, hoặc cố giải quyết mọi việc mà mình không thấy rõ ràng, rồi mới có đức tin sau, thì mọi bối rối sẽ tăng thêm mà thôi. Ngược lại, nếu chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời khi tự cảm thấy hoàn toàn bất lực và lệ thuộc như thực trạng của chúng ta, rồi với đức tin đơn sơ và khiêm nhường, bày tỏ mọi nhu cầu cho Ngài là Đấng có sự hiểu biết vô hạn, là Đấng thấy hết mọi sự, vừa là Đấng dùng ý muốn và lời phán mà cai trị mọi vật, thì Ngài có thể và sẽ nghe lời kêu van của chúng ta, sẽ để sự sáng Ngài chiếu rạng vào lòng chúng ta. Nhờ lời cầu nguyện mà chúng ta được liên lạc với sự khôn ngoan vô tận của Đấng đời đời. Tuy ta không có bằng chứng nào cả, nhưng thật sự Đấng Cứu Thế đã cúi nhìn xuống chúng ta với tất cả sự cảm thương chan chứa và tình yêu tuyệt vời. Có thể chúng ta không cảm thấy được cái vuốt ve đầy trìu mến, nhưng bàn tay Ngài bao phủ trên ta với lòng bác ái cùng sự thương xót dịu dàng.

      Khi đến cùng Chúa để cầu xin ơn phước và sự thương xót, chúng ta cần phải có tấm lòng đầy yêu thương và tha thứ. Làm sao chúng ta có thể cầu khẩn: “Xin tha tội lỗi cho chúng con” trong khi ta mang nặng tinh thần bất dung tha? Ma-thi-ơ 6:12. Chúng ta muốn được Chúa nhậm lời cầu xin và tha tội chừng nào, thì phải có tinh thần tha thứ như thế trước khi cầu nguyện.

     Bền lòng cầu nguyện cũng là một điều kiện để được Chúa nhậm lời. Nếu muốn lớn lên trong đức tin và kinh nghiệm, ta phải cầu nguyện luôn luôn. Chúng ta phải “bền lòng mà cầu nguyện, ” phải “bền đỗ và tỉnh thức trong sự cầu nguyện, và thêm sự tạ ơn vào.” Rô-ma 12:12; Cô-lô-se 4:2. Sứ đồ Phi-e-rơ khuyên tín giáo: “Hãy khôn ngoan tỉnh thức mà cầu nguyện.” 1 Phi-e-rơ 4:7. Sứ đồ Phao-lô đã dặn: “Trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời.” Phi-líp 4:6. Giu-đe nhắn nhủ: “Hỡi kẻ rất yêu dấu … hãy … nhơn Đức Thánh Linh mà cầu nguyện, hãy giữ mình trong sự yêu mến Đức Chúa Trời.” Giu-đe 20, 21. Cầu nguyện không thôi là mối dây liên kết không thể đứt, ràng buộc tâm linh ta vào đời sống ta, rồi từ chính đời sống nầy, sự tinh sạch và thánh khiết sẽ chảy trở về với Chúa.

     Cần phải bền lòng mà cầu nguyện. Đừng để điều gì ngăn trở bạn. Hãy hết sức cố gắng để giữ lấy sự thông công giữa Chúa Giê-su và linh hồn bạn. Hãy tìm mọi cơ hội để dự các phiên cầu nguyện. Những người thật lòng tìm kiếm sự tương giao với thiên đàng, đều có mặt trong các phiên nhóm cầu nguyện, trung thành trong công việc ấy và hết lòng quan tâm đến việc tiếp nhận mọi lợi ích mà họ có thể thâu nhận được. Họ sẽ tận dụng mọi cơ hội để có thể tự đặt mình vào nơi có những tia sáng chói lòa từ thiên đàng chiếu ra.

     Chúng ta phải cầu nguyện trong vòng gia đình, nhưng trên hết, đừng bao giờ xao lãng việc cầu nguyện riêng, vì đó chính là sự sống của linh hồn. Linh hồn không thể nào mạnh mẽ và phát triển nếu ta xao lãng việc cầu nguyện. Chỉ cầu nguyện trong gia đình không, chưa đủ. Trong nơi thanh vắng, hãy mở rộng tâm hồn ta cho đôi mắt tinh tường của Đức Chúa Trời nhìn xem. Lời cầu nguyện thầm kín nầy chỉ có Đức Chúa Trời nghe mà thôi. Không một lỗ tai ngóng chuyện nào được phép nghe những gánh nặng của tâm hồn được dâng lên Chúa trong lời cầu nguyện ấy. Trong lúc cầu nguyện riêng như vậy, linh hồn phải được thoát khỏi ngoại cảnh cùng mọi sự huyên náo ở đời. Thầm lặng nhưng thiết tha, lời cầu nguyện ấy sẽ vang lên đến Đức Chúa Trời. Anh hưởng êm ái và sự nhẫn nại từ nơi Đức Chúa Trời tỏa ra cho những ai tìm kiếm Chúa trong lời cầu nguyện riêng, vì Chúa là Đấng luôn lắng nghe những lời khẩn nguyện phát xuất từ nơi sâu thẳm của tâm hồn. Bởi sự thầm lặng và đức tin đơn sơ mà linh hồn giữ vững sự thông công với Đức Chúa Trời để tích lũy lấy những tia sáng thiên thượng hầu tăng cường và giữ vững lấy mình trong cơn giao tranh với Sa-tan. Đức Chúa Trời chính thật là đồn lũy và sức lực của chúng ta.

      Cầu nguyện trong phòng riêng cũng chưa đủ. Trong khi lo công việc hằng ngày, cũng hãy hướng lòng mình lên Đức Chúa Trời. Ê-nóc đồng đi với Đức Chúa Trời bằng cách ấy. Những lời cầu nguyện thầm lặng kia chẳng khác nào mùi hương thơm tỏa ra trước ngôi ơn phước, và Sa-tan không thể nào thắng nổi những kẻ dâng lòng mình luôn nương náu bên cạnh Đức Chúa Trời.

      Bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào, cũng đều thuận tiện để dâng lời cầu xin lên Đức Chúa Trời. Không gì có thể ngăn cản ta hướng lòng mình lên trong tinh thần khẩn nguyện tha thiết. Khi ở giữa đám đông nơi phố phường hoặc trong lúc giao thiệp ở lãnh vực kinh doanh, chúng ta đều có thể cầu xin sự hướng dẫn thiên thượng như Nê-hê-mi xưa kia khi dâng sớ lên vua Ac-ta-xét-xe vậy. Bất cứ nơi nào cũng có thể là chỗ để ta thông công với Đức Chúa Trời. Ta phải mở cửa lòng luôn để lúc nào cũng có thể mời Chúa ngự vào.

     Tuy sống giữa vòng hoen ố suy đồi, ta có thể không hấp thụ lấy uế khí của thế gian mà sống với bầu không khí trong sạch của thiên đàng. Chúng ta có thể đóng kín cửa lòng khỏi những tư tưởng ô uế và mọi ý nghĩ không thánh khiết, bằng cách dâng lòng mình lên Đức Chúa Trời qua lời cầu nguyện thành tâm. Tất cả những người nào mở lòng mình ra để tiếp nhận sự nâng đỡ và phước hạnh của Đức Chúa Trời, sẽ bước đi trong bầu không khí thánh khiết hơn bầu không khí của thế gian, và sẽ được thông công với thiên đàng không thôi.

      Chúng ta phải nhìn thấy hình ảnh của Đức Chúa Giê-su rõ ràng hơn và thấu hiểu rõ ràng hơn giá trị của những sự thật vĩnh cửu. Nét hoa mỹ của sự thánh khiết phải đầy dẫy trong lòng của con cái Đức Chúa Trời. Muốn được vậy, chúng ta phải cầu xin Chúa bày tỏ những sự vật của thiên đàng cho mình ngắm xem.

    Chúng ta phải để linh hồn mình hướng thượng để Đức Chúa Trời ban cho hơi thở của thiên đàng. Chúng ta có thể gần gũi với Chúa đến nỗi, hễ gặp cơn thử thách bất ngờ thì tư tưởng của chúng ta liền hướng về Chúa một cách vô cùng tự nhiên như loài hoa xoay về hướng mặt trời mọc vậy.

    Hãy trình bày cho Chúa mọi nhu cầu, mọi niềm vui, mọi nỗi khổ đau, mọi sự lo âu cũng như sợ hãi. Bạn không thể nào làm cho Chúa mang quá nặng đâu, cũng không có thể làm cho Ngài mệt mỏi được. Chúa là Đấng thường đếm tóc trên đầu bạn, sẽ không làm ngơ trước những sự thiếu thốn của con cái Ngài. “Chúa đầy lòng thương xót và nhân từ.” Gia-cơ 5:11. Tấm lòng đầy nhân từ và yêu thương của Chúa vô cùng xúc động trước những sự đau khổ của chúng ta, ngay khi ta vừa thốt nên lời. Hãy dâng cho Chúa mọi phiền lo trong tâm trí mình. Không có gì quá lớn mà Ngài mang không nổi, vì Ngài nâng thế giới trên tay và điều khiển mọi sự trong vũ trụ. Không có gì liên quan đến sự an khang của chúng ta mà lại quá nhỏ để Ngài không lưu ý đến. Những đoạn đời của chúng ta không có chỗ nào quá đen tối đến nỗi Ngài đọc không được; không một rối rắm nào quá khó đến nỗi Ngài giải quyết không xong. Không một tai ương nào có thể xảy ra cho đứa con hèn mọn nhất của Ngài. Không một lo âu nào vò xé linh hồn, không một niềm vui nào tươi nở, không một lời cầu nguyện thành thật nào thoát khỏi đôi môi của con cái Ngài mà Cha chúng ta ở trên trời không chú ý đến ngay. “Chúa chữa lành người có lòng đau thương, và bó vít của họ.” Thi-thiên 147:3. Mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời và mỗi linh hồn trong thế gian gắn bó mật thiết quá rõ ràng trọn vẹn đến nỗi dường như không có một linh hồn nào không được Ngài chăm lo, cũng như không còn có một linh hồn nào mà Ngài không ban Con yêu quí duy nhất của Ngài chết thay cho họ.

     Đức Chúa Giê-su phán rằng: “Các con sẽ nhơn danh Ta mà cầu xin, Ta chẳng nói rằng Ta không vì các con sẽ cầu xin Cha đâu; vì chính Cha yêu thương các con.” “Ta đã chọn… các con … hầu cho … mọi điều các con sẽ nhơn danh Ta cầu xin Cha, thì Ngài ban cho các con.” Giăng 16:26, 27; 15:16. Nhơn danh Đức Chúa Giê-su mà cầu nguyện có ý nghĩa đặc biệt hơn là chỉ nhắc đến danh Chúa ở phần đầu và phần cuối lời cầu nguyện. Điều đó có nghĩa là cầu nguyện trong tinh thần và trong tâm trí của Đức Chúa Giê-su; có nghĩa là đã tin lời hứa của Chúa thì chúng ta phải trông cậy trên ân điển Ngài và làm việc của Ngài.

      Đức Chúa Trời không có ý định muốn chúng ta phải trở thành những ẩn sĩ hay những nhà tu hành xa lánh cõi đời để hiến mình cho việc thờ phượng. Cuộc đời chúng ta phải như cuộc đời của Đấng Cơ-Đốc—một phần trên đồi cao, một phần với dân chúng. Một người chỉ biết cầu nguyện thôi, mà không làm gì khác cả, chẳng bao lâu sẽ không còn cầu nguyện nữa, rồi một ngày, lời cầu nguyện của người chỉ còn là nghi thức hoặc thói quen hằng ngày mà thôi. Khi con người tự tách mình ra khỏi xã hội, trốn tránh những phận sự của Cơ Đốc đồ, lánh xa việc mang lấy thập tự, khi họ không còn làm việc Chúa cách nhiệt thành, là Đấng hết lòng lo toan cho họ, họ sẽ lạc mất chủ đích của sự cầu nguyện và cũng không cảm thấy được thúc giục để dâng mình cho Chúa nữa. Lời cầu nguyện của họ trở thành riêng tư và ích kỷ. Họ không còn cầu xin cho những nhu cầu của nhân loại, hoặc gây dựng nước của Chúa, hay là cầu xin được thêm năng lực để làm việc Ngài nữa.

     Chúng ta mất mát rất nhiều, khi bỏ qua cơ hội nhóm họp chung với nhau để tăng cường và khuyến khích người khác làm việc Chúa. Ta không còn thấy lẽ thật của lời Chúa là quan trọng và sinh động nữa. Lòng chúng ta không còn được soi sáng và khích lệ bởi ảnh hưởng nên thánh của lời Chúa, nên đời sống thiêng liêng mình sa sút dần. Vì thiếu mất sự cảm thông với nhau nên chúng ta gặp nhiều vấn đề trong sự giao tiếp với các giáo hữu. Người nào chỉ khư khư giữ lấy phần mình tức là không giữ đúng cương vị của Đức Chúa Trời đã chỉ định cho người. Sự đào luyện sẽ giúp thích nghi bản tánh của mình trong cách xử thế giữa xã hội, giúp ta cảm thông với kẻ khác, đó cũng là phương tiện để chúng ta phát triển và thêm sức lực trong công việc của Đức Chúa Trời.

     Nếu tín đồ họp lại với nhau, cùng nhau bàn luận về lòng bác ái của Đức Chúa Trời và lẽ thật cứu rỗi quí báu, thì chính tâm hồn họ sẽ được tươi tỉnh, đồng thời cũng thêm sức mới cho người khác nữa. Mỗi ngày chúng ta có thể học hỏi thêm về Cha của chúng ta ở trên trời, thâu nhận thêm những kinh nghiệm tươi mới về ân điển Ngài, bấy giờ chúng ta chỉ khao khát được nói về tình yêu của Ngài, và trong khi chúng ta làm như thế, cõi lòng chúng ta sẽ được ấm áp, được thêm can đảm. Nếu chúng ta nghĩ và nói nhiều hơn về Đức Chúa Giê-su mà không quá quan tâm đến cá nhân mình, chúng ta sẽ được càng gần Chúa hơn.

     Nếu chúng ta thường suy tưởng về Chúa, như Ngài thường quan tâm đến chúng ta, thì Ngài sẽ luôn luôn ở trong tâm trí ta và không điều gì làm ta ưa thích hơn là được nói về Chúa cũng như chúc tôn danh Ngài. Chúng ta nói về những sự việc trong đời tạm nầy vì chúng ta thích những sự việc ấy. Chúng ta nói về bạn hữu mình vì chúng ta yêu mến họ, niềm vui cũng như nỗi buồn của mình đã kết chặt với họ. Thế thì chúng ta có lý do trọng đại biết chừng nào để kính yêu Đức Chúa Trời hơn các bạn dưới thế của mình, dĩ nhiên chúng ta đặt Ngài lên trên hết trong ý nghĩ của mình, nói đến sự nhân từ của Ngài và truyền ra quyền năng Ngài. Những điều quí báu mà Ngài ban cho chúng ta, không phải để cho ta đặt hết tư tưởng và lòng say mê của mình vào đó, đến nỗi không còn nghĩ về Chúa được. Những sự ban cho ấy luôn luôn nhắc nhở chúng ta nhớ đến Ngài, để buộc chúng ta vào tình bác ái và ơn sâu nặng đối với vị An Nhân của chúng ta ở trên trời vậy. Chúng ta sống quá gần với hạ giới. Hãy nhướng mắt nhìn lên cửa đền thánh đang mở toang trên trời cao, là nơi sự vinh hiển của Đức Chúa Trời chói lòa trên gương mặt của Đức Chúa Giê-su, là Đấng “có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời.” Hê-bơ-rơ 7:25.

      Chúng ta càng phải chúc tụng Chúa nhiều hơn “vì sự nhân từ Ngài, và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người.” Thi-thiên 107:8. Giờ thờ phượng của chúng ta không phải chỉ để cầu xin và thụ hưởng mà thôi. Đừng nên chỉ nghĩ đến sự thiếu thốn của mình mà không bao giờ nghĩ đến những ân huệ mình đã nhận được. Chúng ta cầu xin không biết bao nhiêu điều, nhưng lại ít tạ ơn thay! Chúng ta thường xuyên được thụ hưởng, tuy vậy, ít khi nào tỏ lòng biết ơn, ít khi nào chúc tôn Chúa về những gì Ngài đã làm cho mình.

      Xưa kia khi dân Y-sơ-ra-ên nhóm nhau lại để thờ phượng Chúa, Ngài chỉ dẫn họ rằng: “Các con sẽ ăn tại đó, trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời các con, vui vẻ cùng gia quyến mình, vì mọi việc tay mình làm đã được Giê-hô-va Đức Chúa Trời con ban phước cho.” Phục-truyền luật-lệ ký 12:7. Việc gì làm để vinh hiển Chúa, phải được làm với lòng vui mừng, với bài hát chúc tôn và tạ ơn, chớ không phải với sự u sầu buồn thảm.

      Đức Chúa Trời của chúng ta là Chúa rất nhân lành và đầy lòng thương xót. Đừng bao giờ xem sự hầu việc Chúa là điều buồn nản và mệt mỏi. Sùng bái Đức Chúa Trời và phụng sự Ngài phải là sự vui thỏa. Chúa không muốn con cái Ngài là những kẻ mà Ngài ban cho sự cứu rỗi lớn lao, xem Chúa như người chủ hà khắc. Ngài là bạn thiết của họ, nên khi họ thờ phượng Ngài, Chúa ngự giữa họ để ban phước, an ủi họ, làm cho lòng họ chứa chan niềm vui và tình yêu. Đức Chúa Trời muốn con cái Ngài được an ủi trong sự hầu việc Ngài, cũng như tìm được niềm vui mừng hơn là sự khốn khổ. Chúa định rằng những ai đến thờ lạy Ngài sẽ đem về với họ những tư tưởng quí báu về sự chăm lo và lòng bác ái của Ngài, để họ được vui vẻ trong mọi công việc hằng ngày, sự thật thà, chánh trực trong cuộc sống.

     Chúng ta hãy quây quần nhau quanh thập tự, Đấng Cơ-Đốc và sự đóng đinh của Ngài phải là chủ đề để suy ngẫm, thảo luận, và là mối xúc cảm vui mừng nhất cho chúng ta. Ta phải ghi nhớ mọi ơn phước mà Đức Chúa Trời ban cho, và khi nhận thức được tình yêu sâu xa của Ngài, chúng ta sẽ sẵn sàng giao phó mọi sự vào đôi bàn tay đã bị đóng đinh trên thập tự vì nhân loại.

      Linh hồn sẽ nương cánh tạ ơn mà bay bổng lên thiên đàng. Trên thiên cung cao kia Đức Chúa Trời được thờ phượng bằng bài ca, tiếng nhạc, nên khi chúng ta bày tỏ lòng biết ơn của mình, điều đó cũng phù hợp với sự thờ phượng của các thiên binh vậy. “Kẻ nào dâng sự cảm tạ làm của lễ, tôn vinh Ta.” Thi-thiên 50:23. Vậy chúng ta hãy hết lòng tôn kính, vui mừng mà đến trước Đấng Tạo Hóa mình để “tạ ơn và tiếng ca hát.” Ê-sai 51:3.

 

Leave a Reply


  • Categories

  • Liên Hệ

    Email: theheritagekeepers247@gmail.com