Khi kết thúc một ngàn năm,* Đấng Christ trở lại thế gian cùng với những người đã được chuộc và đạo binh thiên sứ. Ngài ra lệnh cho những kẻ gian ác sống lại để nhận lãnh sự phán quyết cho các tội lỗi của mình. Họ bước đến, nhiều vô số, như cát trên bờ biển, mang theo những dấu vết của bệnh tật và sự chết. Thật là trái ngược với những người đã được sống lại trong sự phục sinh lần thứ nhất!

         Mọi mắt đều hướng nhìn về sự vinh hiển của Con Đức Chúa Trời. Các đạo quân gian ác cùng đồng thanh kêu lên rằng: “Phước cho Ðấng nhơn danh Chúa mà đến!” Ma-thi-ơ 23:39. Chúng nói những lời này không phải bởi sự yêu thương.Chính sức mạnh của lẽ thật đã thúc đẩy những lời này khỏi những môi miệng miễn cưỡng của chúng. Khi những kẻ gian ác nầy chết như thế nào, thì ngày nay khi được phục sinh, chúng cũng vẫn giữ lòng ghen ghét và nghịch thù với Đấng Christ như vậy và vẫn mang trong lòng bản chất nổi loạn chống đối ấy. Chúng không còn có khoảng thời gian thử thách nào nữa để có thể ăn năn hoặc thay đổi cuộc sống trong quá khứ của mình.

         Đấng tiên tri đã nói rằng: “Chơn Ngài sẽ đứng trên núi ô-li-ve và núi ô-li-ve sẽ bị xé ra chính giữa”. Xa-cha-ri 14:4. Khi thành Giê-ru-sa-lem mới được từ trên trời mang xuống, nó sẽ được đặt trên chỗ đã sửa soạn sẵn, và Đấng Christ cùng với dân sự và các thiên sứ của Ngài, sẽ cùng tiến vào trong thành thánh ấy.

         Trong lúc bị giam cầm và không thể tiếp tục công việc phỉnh dỗ người khác, quỷ Sa-tan rất khổ sở, chán nản và thất vọng, nhưng khi những người gian ác được phục sinh, nó nhìn thấy đoàn người đông vô số thuộc phe của mình, thì hy vọng trong nó lại được phục hồi. Nó quyết định rằng không thể nào chịu thua trong cuộc chiến lớn này. Nó sẽ là thống soái lãnh đạo những người sa ngã dưới trướng của nó. Qua việc từ chối Đấng Christ, những người này đã chấp nhận sự thống trị của kẻ lãnh đạo nổi loạn, sẵn sàng làm theo những gì nó ra lệnh. Song, với bản tính xảo quyệt của mình, nó không thừa nhận rằng mình là Sa-tan. Nó tuyên bố rằng nó chính là chủ hợp pháp của trái đất này và quyền thừa kế đã bị tước đoạt khỏi tay nó một cách bất hợp pháp. Nó cho rằng nó là Đấng Cứu Chuộc, và quả quyết với những thần dân bị nó lừa dối rằng nhờ quyền phép của nó mà họ đã được sống lại từ trong mồ mả của mình. Sa-tan làm cho kẻ yếu trở nên mạnh, và làm cho chúng tin rằng với năng lực của mình, nó có thể lãnh đạo họ để chiếm lấy thành của Đức Chúa Trời. Nó chỉ vào đoàn dân đông triệu triệu vô số người vừa mới được sống lại từ trong sự chết, và tuyên bố rằng với tư cách là thủ lĩnh của họ, nó có thể chiếm lại được ngai vàng và vương quốc của nó.

        Trong đám đông vô số người đó có những giống dân sống rất thọ và tồn tại từ trước trận nước lụt, những người vóc dáng cao to và trí thông minh phi thường; là những người mà những công trình tuyệt vời của họ đã làm cho thế gian thần tượng hóa chính sự uyên bác của họ, và cũng là những người mà những sự phát minh cũng như sự gian ác của họ đã làm cho Đức Chúa Trời đã phải tiêu diệt họ khỏi sự sáng tạo của Ngài. Trong số họ cũng có những vị vua chúa và những tướng lãnh là những người chưa bao giờ thất bại trong trận chiến nào. Trong sự chết, họ không hề thay đổi. Và khi họ được sống lại khỏi mồ mả mình, họ cũng có cùng một tham vọng chiến đấu mà họ đã từng có khi họ nằm xuống.

Cuộc Tấn Công Cuối Cùng Chống Lại Đức Chúa Trời

        Sa-tan hội ý với những người mạnh mẽ này. Chúng tuyên bố rằng quân đội ở trong thành nhỏ hơn so với quân đội của chúng và vì thế chúng có thể chiến thắng được. Những chiến binh mưu trí lên chiến lược để chiến đấu. Những vị tướng lãnh dẫn dắt quân đội theo từng đoàn, từng bộ.

         Cuối cùng, hiệu lệnh tiến lên được đưa ra, và hằng hà sa số quân binh tiến tới, một đội binh hùng mạnh đến nỗi thế lực của mọi thời đại cộng lại cũng không bằng. Sa-tan lãnh đạo đội quân tiên phong, trong đoàn của nó gồm có các vua và các chiến binh. Với những chi tiết quân đội chính xác, từng đoàn quân binh đứng ngay thẳng tắp và đồng tiến tới, bước qua khỏi nơi bị nứt của bề mặt trái đất, hướng về nơi thành của Đức Chúa Trời. Khi hiệu lệnh của Đức Chúa Jêsus được ban ra, các cổng của thành Giê-ru-sa-lem mới đóng lại, và các quân đội của Sa-tan chuẩn bị sẵng sàng để tấn công.

         Bấy giờ, Đấng Christ xuất hiện trong tầm nhìn của những kẻ thù nghịch Ngài. Ở bên trên thành ấy, trên nền dát vàng, là ngai của Ngài. Con của Đức Chúa Trời ngồi trên ngai ấy và chung quanh là các thần dân của nước Ngài. Sự vinh hiển của Đức Chúa Cha Đời Đời bao phủ lấy Con Ngài. Sự sáng chói của sự hiện diện Ngài chiếu rọi khắp nơi, làm khắp cả trái đất phủ đầy với những tia sáng đó.

         Ở gần ngai nhất là những người trước đây đã từng sốt sắng đi theo Sa-tan, nhưng họ đã được lấy ra như những viên than đỏ được lấy ra khỏi đống lửa đang cháy, và họ đã hết lòng trung tín đi theo Đấng Cứu Rỗi mình. Kế đến là những người có những đức tính toàn vẹn ngay khi ở giữa vòng những người bội tín, bất tin và lừa dối, là người đã luôn vâng giữ theo luật pháp của Đức Chúa Trời trong khi cả thế gian tuyên bố rằng luật pháp ấy không có giá trị, và hàng triệu triệu người, của các thời đại khác nhau, đã tử vì đạo bởi đức tin của mình. Phía trước là “vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà là”. Khải-huyền 7:9. Cuộc chiến của họ đã kết thúc, và họ đã chiến thắng. Nhánh chà là chính là biểu tượng của sự chiến thắng, và áo dài trắng tượng trưng cho sự công bình của Đấng Christ mà giờ đây là của họ. Trong đoàn người đông vô số đó, không có người nào nghĩ và tin rằng sự cứu rỗi mà họ nhận được là do những việc làm tốt và công bình của mình mà có được. Không có điều gì nói đến những sự đau đớn, khổ cực họ đã phải trải qua; chủ đề chính của những bài hát ngợi khen là Sự Cứu Rỗi đến từ Đức Chúa Trời và từ Chiên Con.

Lời Tuyên Án Rõ Ràng Dành Cho Những Kẻ Nổi Loạn

         Trước sự hiện diện dân cư của trái đất và trên trời, lễ đăng quang của Con Đức Chúa Trời được cử hành. Và giờ đây, với sự uy nghi và quyền năng tối cao, Vua của các vua chính thức tuyên án những kẻ nổi loạn là những kẻ vi phạm luật pháp của Ngài và áp bức dân sự Ngài. “Tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Ðấng đương ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa. Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy”. Khải-huyền 20: 11, 12.

         Khi mắt của Đức Chúa Jêsus hướng về phía những kẻ gian ác, chúng nhận biết từng lỗi lầm chúng đã phạm phải. Chúng thấy được những lúc chân chúng bước ra xa khỏi con đường thánh thiện. Những sự cám dỗ đầy quyến rũ mà chúng đã sa vào và đắm chìm trong tội lỗi, những sứ giả của Đức Chúa Trời gửi đến để cảnh báo chúng đều nhận lấy sự miệt thị, khinh khi, những lời cảnh báo bị chối từ, những cơn sóng của sự nhân từ bị đánh trả lại bởi những tấm lòng chai lì, không biết ăn năn—tất cả những hình ảnh đó hiện ra rõ ràng như được viết bằng ngọn lửa.

         Phía trên ngai là hình ảnh của thập giá. Như một quang cảnh toàn diện hiện ra từ những hình ảnh khi A-đam sa ngã và những bước liên tiếp trong kế hoạch của sự cứu chuộc. Sự giáng sinh hèn mọn của Đấng Cứu Thế; đời sống giản dị, mộc mạc của Ngài; phép báp-têm của Ngài tại sông Giô-đanh; sự kiêng ăn và cám dỗ trong đồng vắng; chức vụ của Ngài mở ra cho nhân loại các ơn phước của Thiên Đàng; những ngày dài bận rộn với các việc làm nhân từ, những đêm thâu nguyện cầu trên núi; để đáp trả lại những việc làm nhân từ của Ngài, Ngài nhận được những kế hoạch của sự ghen ghét, và hiểm độc; sự thống khổ tại vườn Ghết-sê-ma-nê với gánh nặng tội lỗi của cả thế gian đè nặng trên Ngài; những kẻ phản bội Ngài và đám đông muốn giết Ngài; những sự kiện của buổi tối hôm kinh hoàng ấy—một tù nhân không chút kháng cự và bị các môn đồ mình từ bỏ, bị cáo buộc trước mặt thầy cả thượng phẩm, trước tòa án của Phi-lát, trước Hê-rốt nhu nhược, bị nhạo báng, sỉ nhục, tra tấn và xử tội chết—tất cả được miêu tả thật sống động.

         Và giờ đây, trước mặt đám đông tràn ngập kinh hoàng đó, những cảnh cuối cùng được hiện ra: Đấng cam chịu nhịn nhục lê bước trên con đường đến Gô-gô-tha; Hoàng Tử của thiên đàng bị treo trên thập tự giá; những thầy tế lễ thượng phẩm và các thầy dạy luật cười nhạo Ngài trong lúc Ngài chịu đau đớn sắp chết trên thập tự; sự tối tăm diệu kỳ đánh dấu thời điểm khi Đấng Cứu Chuộc của thế gian phó thác mạng sống của Ngài.

         Cảnh tượng oai nghi diễn ra như thế đó. Sa-tan và những người theo nó không còn chút quyền lực nào để có thể chạy trốn khỏi những hình ảnh đó. Mỗi người như một diễn viên, đều hồi tưởng lại vai diễn của chính mình. Hê-rốt, người đã giết chết những đứa trẻ vô tội của Bết-lê-hem; Hê-rô-đia vô đạo đức, là người đã làm đổ huyết vô tội của Giăng Báp-tít; Phi-lát yếu đuối, xu thời; những người lính nhục mạ Đức Chúa Giê-su; và đám đông điên cuồng gào thét, “Nguyện máu của Người đổ trên đầu chúng tôi và con cái chúng tôi!”—tất cả đều cuống cuồng tìm cách chạy trốn khỏi vẻ uy nghi thiên thượng của sắc mặt Ngài, trong khi những người đã được cứu chuộc đều lấy mão triều đặt dưới chân Đấng Cứu Thế, kêu lớn tiếng rằng “Ngài đã chết cho tôi!”.

         Có một Nê-rô, một quái vật gian ác và vô đạo đức, thích ngắm nhìn và thỏa mãn sự vui thích của hắn khi nhìn thấy những người mà hắn áp bức, tra tấn bị khốn khổ, đau đớn. Mẹ hắn chứng kiến những việc làm của mình, và nhìn thấy những ảnh hưởng của bà trên con trai mình qua những việc làm gian ác đến nỗi cả thế gian phải rúng động.

        Có những vị linh mục của giáo hội công giáo và các tổng giám mục là những người đã tuyên bố chính họ là người đại diện cho Đấng Christ, nhưng lại sử dụng cái trăn (dụng cụ tra tấn thời xưa, kéo tay và chân người bị tra tấn ra bốn hướng khác nhau), sự bắt bớ và giàn hỏa để kiểm soát dân sự của Ngài. Có những vị giáo hoàng tự cao tự đại là những người tự nâng mình lên cao hơn cả Đức Chúa Trời và cho phép mình thay đổi luật pháp của Đấng Tối Cao.Những vị linh mục, tổng giám mục và giáo hoàng giả cách này sẽ phải trả lời trước mặt Chúa về những việc làm của mình. Đã quá trễ khi họ nhận thấy được rằng Đấng Toàn Tri là một Đức Chúa Trời luôn bảo vệ luật pháp của Ngài. Giờ đây họ biết được rằng Đấng Christ đồng hóa những lợi ích của Ngài chung với những con cái đau đớn, chịu khổ của Ngài. Họ hiểu rõ hơn về lời Ngài phán: “hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy”. Ma-thi-ơ 25:40.

        Toàn thể đám đông gian ác của thế gian đứng trước sự cáo buộc vì đã bội tín với những nhà lãnh đạo của thiên đàng. Họ không có gì để biện hộ cho động cơ phạm tội của mình; họ không có một sự bào chữa nào; và lời phán quyết là sự chết đời đời được tuyên phán cho họ.

        Những kẻ gian ác nhận thấy rằng họ đã phải trả giá vì sự nổi loạn của chính mình.“Tất cả những điều này” những linh hồn hư mất cất tiếng la lớn lên, “lẽ ra tôi đã có được. Ôi, quả thật là khờ dại làm sao! Tôi đã đổi sự bình an, hạnh phúc và tôn trọng để lấy sự khốn khổ, nhục nhã và tuyệt vọng”. Tất cả đều nhận thấy rằng việc họ bị loại ra khỏi thiên đàng là công bằng. Chính họ đã dùng mạng sống của mình để tuyên xưng rằng: “chúng tôi sẽ không để cho người này [Đức Chúa Giê-su] cai trị trên chúng tôi.”

Sa-tan Bị Đánh Bại

         Giống như bị thôi miên, những kẻ gian ác ngắm nhìn buổi lễ đăng quang của Con Đức Chúa Trời. Chúng nhìn thấy trên tay Ngài là những bảng luật pháp mà họ đã từng khinh miệt. Họ chứng kiến sự tôn kính từ những người được cứu; và khi giai điệu lướt qua đoàn người ở phía bên ngoài thành, tất cả đều la lên: “Hỡi Vua của muôn đời, đường lối Chúa là công bình và chơn thật!”. Cùng quỳ phục dưới đất, họ thờ lạy Hoàng Tử của Sự Sống. Khải-huyền 15:3.

         Sa-tan dường như trở nên bị tê liệt. Trước đây từng là một Chê-ru-bin, nó nhớ lại lúc nó sa ngã. Từ một nơi mà trước đây nó từng được tôn trọng, giờ đây nó mãi mãi bị đuổi ra ngoài. Nó nhìn thấy một người khác giờ đang được đứng gần bên Đức Chúa Cha, một vị thiên sứ uy nghi, huy hoàng. Nó biết rằng vị trí cao trọng này lẽ ra đã là của nó.

         Ký ức gợi nhớ lại trong nó ngôi nhà mà khi nó còn là vô tội, sự bình an và thỏa lòng mà nó đã có được cho đến khi nó nổi loạn. Nó xem xét lại những việc làm giữa vòng loài người và kết quả của những việc đó—sự hận thù của loài người dành cho các quỷ sứ thuộc về nó, sự tàn phá ghê gớm của cuộc sống, sự lật đổ ngôi vị, sự lộn xộn, xung đột và cách mạng. Nó nhớ lại những nỗ lực không ngừng của nó để chống lại công việc của Đấng Christ. Khi nó nhìn lại những kết quả của sự cực nhọc nó, nó chỉ thấy toàn là sự thất bại. Hết lần này đến lần khác trong quá trình của cuộc chiến đấu lớn, nó đã bị đánh bại và buộc phải đầu hàng.

         Mục đích của cuộc nổi loạn lớn là để Sa-tan tự biện minh cho chính mình và để chứng minh rằng các lãnh đạo của thiên đàng phải chịu trách nhiệm cho cuộc nổi loạn. Nó đã dẫn dắt một đám đông vô số kể để họ chấp nhận sự giải thích của nó. Trải qua hàng ngàn năm, thủ lĩnh của mọi mưu đồ đã tráo đổi lẽ thật với những tư tưởng sai lạc của nó. Nhưng giờ đã đến khi lịch sử và bản chất của Sa-tan bị phơi bày ra. Trong nỗ lực cuối cùng của nó để phế truất Đấng Christ, tiêu diệt dân sự của Ngài, và chiếm lấy Thành của Đức Chúa Trời, kẻ lừa dối tinh quái đã hoàn toàn bị lật mặt nạ. Những kẻ đi theo nó nhìn thấy được sự thất bại hoàn toàn của nó.

         Sa-tan nhận thấy rằng sự cố ý nổi loạn của nó đã làm cho nó trở nên không còn thích hợp ở trên thiên đàng nữa. Nó đã dành hết mọi quyền lực của mình để chiến tranh chống lại Đức Chúa Trời; sự thanh khiết và hài hòa của thiên đàng giờ đây chính là sự tra tấn mạnh mẽ nhất đối với nó. Nó cúi đầu xuống và thừa nhận sự công bằng của sự phán quyết giành cho nó.

         Mọi câu hỏi thắc mắc về lẽ thật hay về lỗi lầm trong trận chiến dài giờ đây được làm sáng tỏ hết. Hậu quả của việc gạt bỏ luật pháp của thiên đàng qua một bên luôn được công khai rõ ràng cho toàn thể vũ trụ nhìn thấy. Lịch sử của tội lỗi vẫn còn mãi cho đến muôn đời như là một bằng chứng rằng luật pháp của Đức Chúa Trời được dựng nên để mang lại hạnh phúc cho tất cả các vật thọ tạo của Ngài. Toàn thể vũ trụ, gồm cả những người trung tín cũng như những kẻ bất tuân, đều đồng thanh tuyên xưng rằng: “Hỡi Vua của các thánh, đường lối Chúa là công bình và chơn thật!”

         Giờ đã đến khi Đấng Christ được tôn vinh hiển trên tất cả muôn vật. Vì sự vui mừng đặt ở phía trước Ngài—để Ngài có thể đem nhiều con cái của Ngài vào trong sự vinh hiển với Ngài—mà Ngài đã cam chịu đón nhận thập tự giá. Ngài nhìn những người được chuộc, được làm mới lại theo ảnh tượng của Ngài. “Người sẽ thấy kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình, và lấy làm thỏa mãn”. Ê-sai 53:11. Với giọng nói vang đến tất cả đoàn dân đông vô số, cả người công bình và người gian ác, Ngài tuyên bố: “Hãy nhìn xem cái giá mà ta chuộc bởi chính huyết mình! Vì những người này mà ta cam lòng, mà Ta đã chịu chết!”

Sự Kết Thúc Dữ Dội Dành Cho Những Kẻ Gian Ác

         Bản tính của Sa-tan vẫn không thay đổi. Sự nổi loạn giống như dòng nước lũ một lần nữa vỡ tung ra. Nó quyết định sẽ không bỏ lỡ trận chiến liều lĩnh cuối cùng chống lại Vua của thiên đàng. Cho dù đoàn dân đông vô số người mà nó đã cám dỗ và lôi kéo vào trong sự nổi loạn, không có người nào giờ đây công nhận uy thế của nó nữa. Những kẻ gian ác cũng chứa đầy sự ghen ghét Đức Chúa Trời mà Sa-tan đã truyền qua cho họ, nhưng họ cũng nhận thấy rằng họ hoàn toàn mất hết hy vọng.

         Lửa của Đức Chúa Trời từ trên trời giáng xuống. Trái đất bị vỡ ra. Những ngọn lửa tàn phá bủa ra từ những khe hở, những vết nứt của đất. Những hòn đá bốc cháy. “Các thể chết bị đốt mà tiêu tán, đất cùng mọi công trình trên nó đều sẽ bị đốt cháy cả” II Phi-e-rơ 3:10. Bề mặt của trái đất dường như là một khối tan chảy—một hồ lửa bao la, sùng sục sôi. Đó là “Vì Ðức Giê-hô-va có ngày báo thù, có năm báo trả vì có Si-ôn”. Ê-sai 34:8. Những kẻ gian ác bị đoán phạt “tùy theo những việc họ làm”. Sa-tan phải gánh chịu không những vì sự nổi loạn của nó, mà còn vì tất cả những tội lỗi mà nó đã làm cho dân sự của Đức Chúa Trời phạm phải. Trong ngọn lửa đó, những kẻ gian ác đến cuối cùng cũng đã bị hủy diệt, và gốc lẫn cành—Sa-tan là gốc và những kẻ đi theo nó là cành. Sự trừng phạt đầy đủ của luật pháp đã được thực thi; những đòi hỏi của sự công bằng đã được đáp trả. Những công việc phá hoại của Sa-tan đã bị chấm dứt đời đời. Giờ đây, các vật thọ tạo của Đức Chúa Trời mãi mãi được giải thoát khỏi những sự cám dỗ của Sa-tan.

         Trong khi trái đất được gói trọn trong lửa, những người công bình được an toàn trong thành thánh. Đối với những kẻ gian ác Đức Chúa Trời là ngọn lửa thiêu đốt chúng, nhưng đối với dân sự Ngài, thì Ngài là cái thuẫn bao bọc, chở che họ. Hãy xem Khải-huyền 20:6; Thi-thiên 84:11.

Nhà Cuối Cùng của Chúng Ta

         “Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhứt và đất thứ nhứt đã biến đi mất”. Khải-huyền 21:1. Lửa đã đốt những kẻ gian ác cũng đã thanh tẩy trái đất. Mọi dấu vết của sự rủa sả đã bị quét sạch đi. Không có ngọn lửa địa ngục nào cháy đời đời ở trước mặt những người được cứu để gợi nhớ đến những hậu quả đáng sợ của tội lỗi. Chỉ có một sự nhắc nhở duy nhất tồn tại: Đấng Cứu Chuộc chúng ta sẽ luôn luôn mang trên Ngài những dấu vết của sự đóng đinh, những dấu vết duy nhất của những việc làm xấu xa mà tội lỗi đã gây ra. Qua các thời đại vĩnh hằng, những vết thương tại trên núi Sọ luôn được chúc tán và bày tỏ quyền năng của Ngài.

         Đấng Christ đã quả quyết với các môn đệ của Ngài rằng Ngài đi để sắm sẵn chỗ cho họ trong nhà Cha của Ngài. Ngôn ngữ của loài người thật không đủ để có thể diễn tả phần thưởng dành cho những người công bình. Chỉ có những ai có thể đạt đến được mới biết được phần thưởng ấy. Không có một trí óc hạn hẹp nào có thể hiểu được sự vinh hiển của Thiên Đàng của Đức Chúa Trời! 

         Trong Kinh Thánh, những người được cứu được thừa hưởng một nơi gọi là “nước”. Hê-bơ-rơ 11:14-16. Tại nơi đó, Đấng chăn chiên thượng giới dẫn bầy chiên mình đến những dòng nước hằng sống. Có những dòng nước hằng chảy muôn đời, trong như pha-lê, và bên cạnh những dòng nước đó là những hàng cây tỏa soi bóng mát xuống những con đường được sửa soạn cho những người được chuộc của Chúa. Những đồng bằng mênh mông to lớn với những ngọn đồi đẹp đẽ, và những ngọn núi của Đức Chúa Trời vươn lên cao những ngọn sừng sững, uy ghi của chúng. Trên những đồng bằng yên lành đó, dọc theo những dòng nước hằng sống, dân sự của Đức Chúa Trời, những người hành hương cùng những người lạc lối lâu ngày, sẽ tìm thấy nhà của họ.

         “Dân ta sẽ xây nhà và ở, trồng vườn nho và ăn trái. Họ chẳng xây nhà cho người khác ở, chẳng trồng vườn nho cho người khác ăn; vì tuổi dân ta sẽ như tuổi cây, những kẻ lựa chọn của ta sẽ hằng hưởng công việc tay mình làm”. “Ðồng vắng và đất khô hạn sẽ vui vẻ; nơi sa mạc sẽ mừng rỡ, và trổ hoa như bông hường”. “Bấy giờ muông sói sẽ ở với chiên con, beo nằm với dê con; bò con, sư tử con với bò nuôi mập cùng chung một chỗ, một đứa con trẻ sẽ dắt chúng nó đi. Nó chẳng làm hại, chẳng giết ai trong cả núi thánh của ta”. Ê-sai 65: 21, 22; 35:1; 11:6, 9.

         Sự đau đớn không còn tồn tại trên thiên đàng. Sẽ không có nước mắt, không có chết chóc, tang thương. “Sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhứt đã qua rồi”. “Dân cư sẽ không nói rằng: Tôi đau. Kẻ ở trong nó sẽ được tha tội”. Khải-huyền 21:4; Ê-sai 33:24.

         Có một thành Giê-ru-sa-lem mới, thủ phủ của đất mới vinh hiển. “Sự chói sáng của thành ấy giống như của một viên bửu thạch, như bích ngọc sáng suốt”. “Các dân sẽ đi giữa sự sáng thành đó và các vua trên đất sẽ đem vinh hiển mình vào đó”. “Đền tạm của Ðức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Ðức Chúa Trời sẽ ở với chúng”. Khải-huyền 21: 11, 24, 3.

         Ở trong thành của Đức Chúa Trời, “đêm không còn có nữa”. Khải-huyền 22:4. Sẽ không còn sự mệt mỏi. Chúng ta sẽ cảm nhận được sự tươi mới của buổi sáng và không còn lo nghĩ đến đêm tàn nữa. Ánh sáng của mặt trời sẽ được thay thế bởi những tia sáng rực rỡ, huy hoàng nhưng không hề chói chang, hơn hẳn những sự sáng chói lúc ban trưa của chúng ta. Những người được chuộc bước đi trong sự vinh hiển của ngày vĩnh hằng.

         “Ở đó, tôi không thấy đền thờ nào; vì Chúa là Ðức Chúa Trời toàn năng và Chiên Con đều là đền thờ của thành”. Khải-huyền 21:22. Dân sự của Đức Chúa Trời có được đặc ân có thể chuyện trò trực tiếp với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Giờ đây, chúng ta nhìn xem hình ảnh của Chúa như trong một cái gương, nhưng đến bấy giờ chúng ta sẽ nhìn thấy Ngài mặt đối mặt, không có bức màn nào che ở giữa.

Sự Chiến Thắng của Tình Yêu của Đức Chúa Trời

         Tại nơi đó, sự yêu thương và cảm thông mà chính Đức Chúa Trời đã gieo vào trong mỗi tấm lòng sẽ tìm thấy được những việc làm chân thật và ngọt ngào nhất. Sự giao tiếp thanh khiết với Đức Thánh Linh và những người tín trung trong các thời đại, là một mối dây thánh khiết buộc chặt “cả nhà trên trời và dưới đất”—Những điều này tạo nên một sự hạnh phúc cho những người được cứu chuộc. Ê-phê-sô 3:15.

         Tại nơi đó, những tâm trí bất tử sẽ suy ngẫm trong niềm vui mừng không dứt về những sự diệu kỳ của quyền năng sáng tạo, và của tình yêu cứu rỗi nhiệm mầu. Mọi tài năng sẽ được phát triển, mọi khả năng sẽ được gia tăng. Sự tìm kiếm tri thức sẽ không bao giờ trở nên mệt mỏi. Những dự án lớn nhất sẽ được thực thi, những khát vọng cao lớn nhất sẽ đạt được, những mong muốn to lớn nhất sẽ thành hiện thực. Và vẫn sẽ có thêm những đỉnh cao mới để chinh phục, những kỳ quan mới để chiêm ngưỡng, những lẽ thật mới để nhận thức, những mục tiêu mới để thu hút mọi tâm trí, linh hồn và thân thể.

         Tất cả mọi châu báu của toàn vũ trụ mở ra cho những người được chuộc của Đức Chúa Trời. Được thoát ra khỏi sự chết, họ cất cánh bay đến những thế giới xa xôi mà không hề mệt mỏi. Các con cái của trái đất bước vào sự vui mừng và khôn ngoan của những hành tinh không bị sa ngã và cùng chia sẻ những châu báu kiến thức mà họ đã tích lũy được từ thời đại này qua thời đại khác. Rõ ràng trong tầm nhìn của họ, họ hướng mắt ngắm nhìn sự vinh hiển của sự sáng tạo—các mặt trời, các ngôi sao, những giải ngân hà… tất cả đều vận hành theo hệ thống được chỉ định cho chúng chung quanh ngai của Thượng Đế.

         Và khi những năm tháng của cõi đời đời trôi qua, càng ngày sẽ càng tỏ ra nhiều sự khải thị vinh hiển hơn nữa về Đức Chúa Trời và Đấng Christ. Con người càng biết nhiều hơn về Đức Chúa Trời bao nhiêu thì họ càng thán phục và ca tụng đức tính của Ngài nhiều hơn. Khi Đức Chúa Jêsus mở ra trước mặt họ sự giàu có của ơn cứu chuộc Ngài và những thành quả tuyệt vời từ cuộc chiến đấu lớn giữa Ngài và Sa-tan, tấm lòng của những người được cứu ngập tràn cảm xúc biết ơn và tôn kính, và ngàn ngàn vạn vạn tiếng ca cùng hòa quyện lại với nhau trong khúc hát chúc tụng Ngài.

         “Tôi lại nghe mọi vật dựng nên trên trời, dưới đất, bên dưới đất trên biển, cùng mọi vật ở đó đều nói rằng: Chúc cho Ðấng ngồi trên ngôi cùng Chiên Con được ngợi khen, tôn quí vinh hiển và quyền phép cho đến đời đời!” Khải-huyền 5:13.

         Cuộc tranh chiến lớn đã kết thúc. Tội lỗi và tội nhân không còn nữa. Toàn thể vũ trụ trở nên sạch sẽ. Một nhịp điệu của sự hòa hợp và hạnh phúc vang lên trong toàn thể các tạo vật. Từ nơi Đấng đã tạo dựng nên mọi vật, tuôn chảy ra sự sống, ánh sáng và sự vui mừng xuyên suốt các vương quốc của khoảng không vô tận. Từ nguyên tử nhỏ nhất cho đến thế giới rộng lớn nhất, tất cả muôn vật, có sanh khí cũng như không có sanh khí, trong sự đẹp đẽ và vui mừng trọn vẹn của chúng, đều bày tỏ rằng Đức Chúa Trời là sự yêu thương.

         * Đây là thiên niên kỷ, được nói đến trong Kinh Thánh sách Khải-huyền 20:1-6 và trong quyển Thiện Ác Đấu Tranh, chương 41.

 

Leave a Reply


  • Categories

  • Liên Hệ

    Email: theheritagekeepers247@gmail.com